Viêm xương khớp – nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và cách điều trị Viêm xương khớp

0
169
Viêm xương khớp – nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và cách điều trị Viêm xương khớp
Đánh giá!

Viêm xương khớp – nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và cách điều trị Viêm xương khớp

Tổng quan
Nguyên nhân
Triệu chứng
Yếu tố nguy cơ
Chẩn đoán
Lựa chọn điều trị
Nơi Điều trị

Tổng quan

Đây là dạng phổ biến nhất của viêm khớp, viêm xương khớp (viêm khớp) ước tính ảnh hưởng đến 40% số dân trưởng thành. Trong số này, chỉ có 10% tìm tư vấn y tế và chỉ có 1% là bị tàn tật nặng.

Viêm xương khớp - nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và cách điều trị Viêm xương khớp
Viêm xương khớp – nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và cách điều trị Viêm xương khớp


Nguyên nhân

 

Viêm xương khớp (viêm khớp) có nghĩa là viêm các khớp mặc dù nói chính xác hơn đây là một căn bệnh thoái hóa do các khớp xương bị viêm làm cho lớp sụn khớp bị mỏng. Lớp sụn trong khớp của chúng ta giúp cho khớp hoạt động dễ dàng. Khi lớp sụn bị hỏng do chấn thương, nhiễm trùng hoặc do lão hóa, chuyển động của khác khớp trở nên khó khăn. Kết quả là, các mô trong khớp trở nên bị kích thích gây đau và sưng.

Viêm xương khớp - nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và cách điều trị Viêm xương khớp
Viêm xương khớp – nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và cách điều trị Viêm xương khớp


Triệu chứng

Khi bị viêm khớp, bạn sẽ không có vấn đề trong việc đứng dậy mỗi buổi sáng, nhưng cùng trong ngày đó, bạn sẽ cảm thấy sự khó chịu tăng lên.

Vào buổi tối, sẽ có một đau âm ỉ ở vùng khớp bị viêm.

Các triệu chứng khác bao gồm:

  • Đau
  • Sưng ở chỗ khớp bị viêm
  • Biến dạng ở xung quanh các khớp
  • Cảm giác hơi nóng khi chạm vào vùng khớp bị viêm
  • Cảm giác có tiếng răng rắc ở vùng khớp bị viêm do cọ xát của lớp sụn bị hư tổn
  • U nang: Khi các khớp ở bàn tay bị viêm, ở tay có thể xuất hiện những u nang nhỏ, làm cho móng tay ở các ngón tay  bị viêm trở nên lồi lõm

Những thay đổi đi kèm với viêm khớp thoái hóa có xu hướng ảnh hưởng đến các khớp xương tương tự. Trong khi đó, đối với viêm khớp thoái hóa sau chấn thương cấp tính hay mãn tính, những thay đổi chỉ tập trung ở vùng khớp bị thương.


Yếu tố nguy cơ

TUỔI TÁC
Khi chúng ta già đi, lớp sụn cũng dễ bị bào mòn hơn. Viêm xương khớp (OA) thường không phổ biến ở những người dưới 40 tuổi.

GIỚI TÍNH
Phụ nữ có nhiều khả năng bị viêm khớp hơn,  đặc biệt là sau khi mãn kinh.

TIỀN SỬ CHẤN THƯƠNG KHỚP
Những người đã từng bị bi thương ở lớp sụn trong khớp, ví dụ như bị gãy xương hoặc chấn thương thể thao liên quan đến khớp, sẽ có nguy cơ mắc bệnh viêm xương khớp sau này cao hơn người bình thường.

CÂN NẶNG
Trọng lượng cơ thể nặng hơn mức trung bình sẽ tạo nên áp lực lớn hơn trên các khớp như hông và đầu gối, làm tăng khả năng viêm khớp ở các khớp này.

DỊ TẬT XƯƠNG
Những người bị dị tật ở xương hoặc sụn thường có nguy cơ bị viêm xương khớp cao.

CÁC BỆNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHỚP
Các bệnh xương khớp làm tăng nguy cơ viêm khớp bao gồm các bệnh như thấp khớp và bệnh gút.

DI TRUYỀN
Yếu tố di truyền có thể dẫn đến sự phát triển của bệnh viêm khớp.


Chẩn đoán

Chuyên gia sẽ lấy bệnh án chi tiết về tình trạng hiện tại của bạn cũng như các vấn đề y tế trong quá khứ, sau đó họ sẽ tiến hành kiểm tra thể chất. Sau đó chuyên gia có thể tiến hành các xét nghiệm khác, ví dụ như.

X-QUANG
Đây là hình thức xét nghiệm phổ biến nhất nhằm kiểm tra tình trạng của các khớp bị viêm cũng như sự liên kết giữa các khớp. Chụp X-Quang thong thường rất an toàn, đơn giản và không gây đau đớn.

XÉT NGHIỆM MÁU
Tùy thuộc vào kết quả lâm sàng, xét nghiệm máu sẽ được tiến hành nhằm loại trừ các nguyên nhân khác của đau khớp, ví dụ: đau khớp do thấp khớp, bệnh gút hay nhiễm trùng.

RÚT DỊCH KHỚP
Thỉnh thoảng, nếu các khớp quá sưng, bác sĩ có thể cho hút chất lỏng ở các khớp bị sưng để thử nghiệm đặc biệt. Việc hút dịch khớp đôi khi làm cho bệnh nhân bớt đau.


Lựa chọn điều trị

Các mục tiêu trong điều trị viêm khớp bao gồm:

i. Giảm đau
ii. Duy trì chức năng
iii. Phòng chống dị tật có liên quan
iv. Giáo dục bệnh nhân

Việc điều trị cho viêm khớp phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của căn bệnh này và.

Các trường hợp viêm khớp phát hiện sớm có thể được điều trị bằng cách:

  • Nghỉ ngơi và thay đổi lối sống, chẳng hạn như giảm cân và ngừng hút thuốc
  • Sử dụng dụng cụ trợ giúp (e.g. một cây gậy đi bộ). Sử dụng giày tốt là cũng hữu ích cho làm giảm triệu chứng trong một số trường hợp viêm khớp
  • Tập thể dục và vật lý trị liệu để tăng cường cơ bắp và cải thiện tính linh hoạt của khớp
  • Thuốc men

Đối với viêm khớp bàn tay, để các khớp được nghỉ ngơi, chúng ta có thể cố định khớp bằng nẹp. Nẹp được giữ trong khoảng 3-4 tuần, trong khoảng thời gian đó nẹp được đeo liên tục

Việc nẹp xương thường được kết hợp với thuốc chống viêm không có corticoid (NSAIDs). Nếu các triệu chứng có dấu hiệu thuyên giảm, việc dùng nẹp trong ngày sẽ được giảm dần dần trong những tháng tiếp theo.

Sử dụng thuốc chống viêm không có corticoid (NSAIDs)
Không dung nạp đường tiêu hóa vẫn là một trong những yếu tố chính hạn chế việc sử dụng NSAIDs kéo dài và có thể yêu cầu ngừng tạm thời hoặc vĩnh viễn của các tác nhân chống viêm.  Việc sử dụng đồng thời các chất chẹn H2,  omeprazole, hoặc misoprostol, một  chất tương tự prostaglandin có tác dụng chống lại các hiệu ứng màng nhầy của NSAIDs, có thể giảm thiểu một số các hiệu ứng tiêu hóa. Thận là một biến chứng rất phổ biến của NSAIDs, và bệnh nhân bị suy thận từ trước không nên dùng NSAIDs trong thời gian dài.

CÁC LOẠI THUỐC
Hiện nay không có loại thuốc nào có thể chữa được bệnh viêm khớp hoặc tái tạo lại lớp sụn trong các khớp bị viêm.

Các loại thuốc thường được bác sĩ kê toa là thuốc giảm đau.  Tùy thuộc vào mức độ đau mà bác sĩ sẽ kê toa thuốc giảm đau tương ứng. Đối với các bệnh ở giai đoạn đầu với các cơn đau nhẹ và không thường xuyên, những thuốc giảm đau thông thường như paracetamol (Panadol®) rất hiệu quả, mặc dù các cơn đau nặng hơn có thể phải dùng đến thuốc chống viêm không steroid (NSAIDS). Người bệnh cũng có thể sử dụng kem giảm đau hoặc các miếng dán.

Glucosamine, có hoặc không có chondroitin, đang trở thành thuốc phổ biến để điều trị viêm khớp trong những năm gần đây. Nó có thể được mua mà không cần toa bác sĩ.

Tuy nhiên, nó không có hiệu quả đối với nhiều bệnh nhân, đặc biệt là những người bị viêm khớp nặng. Thời hạn giảm triệu chứng của nó cũng có xu hướng tạm thời. Không có bằng chứng cho rằng glucosamine hoặc chondroitin có thể tái tạo lại lớp sụn bị hỏng do viêm khớp.

TIÊM
Để điều trị viêm khớp, bác sĩ của bạn đôi khi có thể đề nghị tiêm steroid vào vùng khớp hoặc xung quanh các khớp nếu bạn không phản ứng với các phương pháp điều trị đề cập ở trên. Mặc dù việc tiêm steroid có khả năng giảm đau cao, đây chỉ là phương pháp tạm thời, và bác sĩ của bạn sẽ hạn chế số lần tiêm steroid, vì việc tiêm steroid nhiều có thể làm suy yếu dây chằng và làm cho các lớp sụn đã bị hỏng của bạn trở nên tồi tệ hơn.

PHẪU THUẬT
Phẫu thuật thường chỉ được tiến hành cho các trường hợp bệnh nghiêm trọng, sau khi bệnh nhân không có phản ứng với các phương pháp điều trị nói trên. Chỉ định phẫu thuật và loại phẫu thuật được đề ra sau khi bạn và bác sĩ của bạn đã bàn luận một cách thận trọng.

Đối với nhiều khớp trong bàn tay, phương pháp, thường được sử dụng. Trong joint fusion, bề mặt viêm bị loại bỏ và xương ở hai bên khớp được ghép lại giảm hoạt động của vùng khớp bị viêm.

Sau phẫu thuật, bệnh nhân có thể bị giảm khả năng hoạt đông, tuy nhiên việc loại trừ các cơn đau và sự ổn định của khớp có thể cải thiện chức năng cho các khớp đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng do bệnh thoái hóa khớp.