Tìm hiểu về các loại u cơ trơn ở da

0
527
Tìm hiểu về các loại u cơ trơn ở da
Đánh giá!

 

1. Đại cương về cơ trơn
Về mặt vi thể, mỗi tế bào cơ trơn chỉ có một nhân hình thoi hoặc hình xì gà, không có các sợi vân ngang. Trong khi đó, mỗi tế bào cơ vân có nhiều nhân, có các vân ngang khi quan sát dưới kính hiển vi điện tử (hình 1).
Trong cơ thể người, cơ trơn phân bố như là thành phần cấu tạo của thành mạch (động mạch, tĩnh mạch, mao mạch), một số cơ quan nội tạng (ống tiêu hóa, tử cung, …). Ở da, ngoài các thành mạch, cơ trơn còn tồn tại dưới dạng cơ dựng lông, cơ dartos ở bìu, núm vú, …
Hình 1. Cấu tạo vi thể của cơ trơn
2. Phân loại các khối u cơ trơn ở da
Theo tính chất ác tính hay lành tính, có u cơ trơn (leiomyoma) và sarcom cơ trơn (leiomyosarcoma).
Theo nguồn gốc cơ quan, bộ phận, u cơ trơn ở da được phân thành:
– Piloleiomyoma: u cơ trơn bắt nguồn từ cơ dựng lông, có thể dưới dạng thương tổn đơn độc hoặc nhiều thương tổn.
– Genital leiomyoma: u cơ trơn xuất phát từ cơ trơn vùng sinh dục.
– Angioleiomyoma: u cơ trơn xuất phát từ mạch máu.
Các sarcom cơ trơn ở da được phân thành:
– Cutaneous leiomyosarcoma: xuất phát từ cơ dựng lông và cơ trơn vùng sinh dục.
– Subcutaneous leiomyosarcoma: có nguồn gốc mạch máu.
Ngoài ra, ở da còn có loại u hỗn hợp được gọi là hamartoma cơ trơn.
3. U cơ trơn lành tính (leiomyoma)
3.1. Nguyên nhân
Đa số các u cơ trơn lành tính ở da là do mắc phải. Chỉ những trường hợp có nhiều thương tổn mới có tính chất da đình và di truyền trội. Ở phụ nữ, nếu có nhiều thương tổn u cơ trơn gợi ý có thể có u xơ tử cung đi cùng.
Một số trường hợp u cơ trơn có tính di truyền ở da kết hợp với ung thư thận, làm xuất hiện thuật ngữ HLRCC (hereditary leiomyomatosis and renal cell cancer).
Một số nghiên cứu cho thấy u cơ trơn liên quan tới mất chức năng của gen mã hóa cho enzym fumarat hydratase, làm thiếu hụt enzym này. Fumarat hydratase không chỉ tham gia vào chu trình Krebs mà còn đóng vai trò như là chất ức chế tạo u.
3.2. Đặc điểm lâm sàng
Piloleiomyoma
Thương tổn là các nốt hoặc sẩn chắc màu đỏ nâu, kích thước từ vài mm tới 1 cm, gắn vào da nhưng có thể di động, đơn độc hoặc kết hợp thành mảng, cụm, dải. Vị trí hay gặp thương tổn là mặt duỗi các chi, má, cổ. Một số trường hợp thương tổn ở da mặt dễ nhầm với trứng cá bọc (hình 2, hình 3).
Triệu chứng cơ năng hay gặp là đau. Đau xuất hiện tự nhiên hoặc dưới tác động của các yếu tố vật lý, cảm xúc. Nguyên nhân đau là do yếu tố thần kinh và sự co cơ trơn.
Hình 2. Piloleiomyoma thể nhiều thương tổn
Hình 3. Piloleiomyoma ở má, thương tổn giống trứng cá bọc
Genital leiomyoma
Thường không có triệu chứng cơ năng. Thương tổn là các nốt hoặc sẩn đơn độc nằm sâu hoặc có thể có cuống. Vị trí của thương tổn là ở bìu, âm hộ, quầng vú (hình 4).
Hình 4. Leiomyoma ở núm vú
Angioleiomyoma
Là các nốt đơn độc dưới da, đau nhiều, hay gặp nhất là ở chân. Phụ nữ hay bị bệnh hơn nam giới, độ tuổi hay gặp là 30-60. Thương tổn ít tái phát sau phẫu thuật và không ác tính hóa (hình 5).
Hình 5. Angioleiomyoma
3.3. Đặc điểm mô bệnh học
Piloleiomyoma: Các bó cơ trơn đan xen vào nhau, vị trí xung quanh nang lông. Các tế bào cơ trơn có nhân hình thoi, hình điếu xì gà, tăng sắc, có thể gặp hình ảnh nhân chia. Có sự thâm nhập của tế bào viêm xung quanh các bó cơ trơn. Khi nhuộm hóa mô miễn dịch, các tế bào u dương tính với SMA (smooth muscle actin), desmin, calponin, h-caldesmon.
Genital leiomyoma: các đặc điểm vi thể cũng giống như piloleiomyoma nhưng các bó cơ ở xung quanh lòng mạch.   
3.4. Điều trị
Các biện pháp điều trị u cơ trơn lành tính ở da bao gồm các biện pháp loại bỏ thương tổn như phẫu thuật, laser CO2, áp lạnh, … Ngoài ra cần sử dụng các thuốc giảm đau, giảm co cơ trơn.
Tuy nhiên, sau điều trị, thương tổn vẫn hay tái phát, xuất hiện thương tổn mới.
4. Sarcom cơ trơn ở da
Sarcom cơ trơn ở da có thể xuất hiện sau chấn thương hoặc tia xạ, hiếm khi xuất hiện trên nền leiomyoma.
Đặc điểm lâm sàng: những thương tổn lớn, riêng rẽ, xuất hiện ở những vùng da có lông của chi dưới, nhiều màu sắc, có thể loét, chảy máu, đóng vảy tiết. Triệu chứng cơ năng hay gặp là đau và ngứa. Các sarcom cơ trơn da thường là các nốt nhỏ dưới 2 cm, gắn vào thượng bì (hình 6, 7, 8). Các sarcom cơ trơn nguồn gốc mạch máu có kích thước lớn hơn, không liên quan tới sự thay đổi thượng bì (hình 9).
Hình 6
Hình 7
Hình 8
Mô bệnh học: các bó cơ có ranh giới không rõ, xâm lấn phá vỡ cấu trúc thành mạch, trung bì, các tế bào có nhân quái, nhân chia, tăng sắc. Nhuộm hóa mô miễn dịch thấy dương tính với SMA, desmin, vimentin.
Tiên lượng: tùy theo từng thể. Các sarcom xuất phát từ mạch máu có tỷ lệ di căn là 30-60%, hay gặp di căn tới phổi. Các sarcom xuất phát từ da có tỷ lệ di căn thấp hơn (5-10%).
Điều trị: chủ yếu là phẫu thuật cắt rộng, thậm chí phải cắt cụt chi.
Hình 9. Sarcom cơ trơn nguồn gốc mạch máu
5. Hamartoma cơ trơn
Là các thương tổn u bẩm sinh hoặc mắc phải, xuất phát từ nhiều thành phần ở da nhưng chủ yếu là cơ trơn. Bệnh có thể bẩm sinh hoặc mắc phải, tỷ lệ gặp ở trẻ em là 0,2%. Vị trí hay gặp thương tổn là lưng, chi. Các thương tổn đa dạng, có thể là mảng hoặc dát đơn thuần, có hay không có nang lông, tăng sắc tố, rậm lông, dấu hiệu Darier giả (có phản ứng dựng lông khi chạm vào thương tổn). Hình ảnh lâm sàng giống với nevus Becker (hình 10).
Hình 10. Hamartoma cơ trơn
**Trong bài viết có sử dụng các hình ảnh trên Internet.
Nguồn tin: Bác sỹ Trần Thị Huyền
Đăng tin: Phòng CNTT&GDYT

 

Để xem thêm thông tin về bệnh da liễu cách chăm sóc da vui lòng xem tại: https://benh.edu.vn/benh-da-lieu

Nội dung được tìm nhiều trên Google