Thuốc điều trị viêm loét đại trực tràng chảy máu

0
7
Thuốc điều trị viêm loét đại trực tràng chảy máu
Đánh giá!

Căn nguyên của bệnh chưa rõ ràng, thường xảy ra
ở người trẻ, với biểu hiện lâm sàng chủ yếu là đau bụng, tiêu chảy, phân máu
kèm theo sốt và sút cân, bệnh mạn tính tiến triển từng đợt, để lại nhiều biến
chứng như áp-xe hậu môn, hẹp đại tràng, chảy máu trầm trọng, phình đại tràng nhiễm
độc, ung thư hóa…

>–>
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
>–>

/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:”Table Normal”;
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-parent:””;
mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt;
mso-para-margin:0cm;
mso-para-margin-bottom:.0001pt;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:10.0pt;
font-family:”Times New Roman”;
mso-ansi-language:#0400;
mso-fareast-language:#0400;
mso-bidi-language:#0400;}

Viêm loét đại trực tràng chảy máu là bệnh thường
gặp ở châu Âu và Bắc Mỹ, nhưng thời gian gần đây đang có xu hướng tăng lên ở
châu Á. Việc điều trị cho đến nay còn gặp rất nhiều khó khăn, một số thuốc sau
thường được đưa vào sử dụng trong điều trị.

Corticoid

Đây là thuốc có hiệu quả trong điều trị các đợt
cấp nặng hoặc vừa, nhất là thể viêm đại tràng toàn bộ hoặc đại tràng trái.
Ngoài tác dụng ức chế miễn dịch, thuốc còn có tác dụng kháng viêm, đặc biệt là
ức chế men phospho lipase A2 nên ngăn chặn sự phóng thích của acid arachidonic
từ các phospholipid.

daitrang.jpg

Trong đợt tiến triển mức độ nặng của viêm loét đại
trực tràng chảy máu, có thể dùng prednisolon đường tĩnh mạch trong vòng 10 – 14
ngày, sau đó giảm dần liều tuỳ theo đáp ứng và tiến triển của điều trị, nếu
không đáp ứng thì đặt vấn đề cắt đại tràng.

Trong đợt tiến triển mức độ vừa và nhẹ có thể dùng
corticoid đường uống với liều tùy theo tình trạng bệnh lý và cân nặng của bệnh
nhân.

Nếu bệnh nhân dùng corticoid trên 3 tháng mà đáp
ứng không tốt thì đặt vấn đề cắt bỏ đại tràng.

Tác dụng phụ của thuốc đặc biệt khi dùng liều cao
kéo dài: phù, rối loạn nước và điện giải, teo cơ, loãng xương, loét hoặc chảy
máu tiêu hoá, kinh nguyệt không đều, rậm lông..

Chống chỉ định: nhiễm virut, nhiễm nấm điều trị
đặc hiệu không khỏi, goute, loét dạ dày tá tràng, viêm gan cấp do virut.

Sulfasalazin và các dẫn chất

Salicylazo – sulfapyridin được cấu tạo bởi acid 5
amino salicylic được nối với một sulfamid là sulfapyridin bằng cầu nối N – N.
Hai chất này sẽ được tách đôi trong lòng đại tràng nhờ vi khuẩn có men azo –
reductase, nên vừa có tác dụng kháng viêm vừa có tác dụng kháng khuẩn.

Nhóm thuốc này thường có hiệu quả trong đợt tiến
triển nhẹ hoặc trung bình, trong viêm đại tràng trái hoặc đại tràng sigma –
trực tràng. Và có thể dùng phối hợp với corticoid để cho hiệu quả điều trị cao
hơn.

Tuỳ theo tình trạng của bệnh mà sử dụng một trong
các chế phẩm như sulfasalazin, olssalazin, mesalazin, pentasa, với liều lượng
khác nhau. Có thể sử dụng viên mesalazin 500mg loại đặt hậu môn trong trường
hợp viêm hậu môn.

Tác dụng phụ thường gặp là chậm tiêu, buồn nôn,
nhức đầu, ngoài ra có một số tác dụng phụ hiếm gặp hơn nhưng nặng hơn đó là nổi
ban, giảm bạch cầu hạt, thiếu máu huyết tán, bệnh phổi kẽ.

Một số thuốc khác

Azathioprin (imuran): có hiệu quả trong một số
trường hợp nặng, khi dùng thuốc cần chú ý bạch cầu hạt, khi lượng bạch cầu hạt
trong máu ngoại vi < 1,5 G/L thì không dùng. Thuốc chống chỉ định ở bệnh
nhân có tổn thương ở gan, người có tiền sử bệnh gan và phụ nữ có thai.

Cyclosporin: mới được đưa vào sử dụng với hiệu quả
khá tốt. Tuy nhiên khi dùng cần chú ý đến tác dụng phụ của thuốc như tăng huyết
áp, rối loạn chức năng thận, rối loạn chức năng gan, rối loạn tiêu hoá, đôi khi
có nhức đầu, ban dị ứng, thiếu máu nhẹ.

Ngoài việc sử dụng thuốc cũng cần chú ý đến chế độ
ăn uống và sinh hoạt của bệnh nhân, động viên bệnh nhân bằng các liệu pháp tâm
lý, trong trường hợp thiếu hụt men lactase thì không cho bệnh nhân dùng sữa,
trong đợt tiến triển khẩu phần ăn cần hạn chế chất xơ. Không dùng các chế phẩm
của thuốc phiện, thuốc chống tiêu chảy và thuốc kháng cholin vì có thể gây ra
phình đại tràng. Đặc biệt trong trường hợp có biến chứng phình đại tràng nhiễm độc,
bệnh nhân phải được theo dõi và điều trị trong trung tâm hồi sức tích cực.

Viêm loét đại trực tràng chảy máu cần được theo
dõi thường xuyên 6 tháng 1 lần bằng soi đại tràng và sinh thiết nhiều mảnh ở
đại tràng và đại tràng sigma để kịp thời phát hiện giai đoạn loạn sản nặng hoặc
là giai đoạn đầu của tiến triển ung thư, đặc biệt, một số nghiên cứu gần đây
cho thấy bệnh nhân có dùng thêm acid folic khi sử dụng salicylazo –
sulfapyridin sẽ làm giảm tỷ lệ loạn sản đại tràng, từ đó làm giảm nguy cơ ung
thư đại tràng.

BS. Nguyễn
Bạch Đằng
Suckhoedoisong.vn

SHARE