Thuốc bôi ngoài da – dùng cho đúng

0
108
Thuốc bôi ngoài da – dùng cho đúng
Đánh giá!

Thuốcchống nấm: Hiện nay, rất nhiều loại thuốc
chống nấm bôi ngoài da có sẵn trên thị trường nhưng hiệu quả và cách sử dụng
của chúng không hoàn toàn giống nhau. Nystatin, miconazole đặc biệt hiệu quả
trong điều trị các trường hợp nhiễm nấm men (như Candida) nhưng không tác dụng
đối với nấm sợi. Clotrimazole và ketoconazole có phổ tác dụng khá rộng so với 2
loại thuốc trên nhưng kém hơn so với các chế phẩm mới như terbinafine, ciclopirox
olamine và butenafine.

Các thuốc chống nấm bôi tại chỗ thường được sử dụng
trong điều trị các trường hợp nhiễm nấm nông như lang ben, hắc lào, hăm kẽ, nấm
móng, nấm da đầu… Cần lưu ý trong các trường hợp nấm da đầu và nấm móng,
thuốc chống nấm bôi tại chỗ thường không đủ tác dụng mà phải phối hợp thêm
đường uống. Hiệu quả của các thuđầuống nấm bôi tại chỗ thường đạt được sau
dùng thuốc ít nhất 2 tuần, trừ trường hợp lang ben và hắc lào có thể thu được
hiệu quả sau vài ngày. Nấm kẽ và nấm bàn chân ở các vận động viên điền kinh
thường gây ra do độ ẩm tại chỗ quá cao, do đó, việc điều trị phải phối hợp giữa
thuốc chống nấm với các biện pháp chống ẩm tại chỗ. Nếu có trợt loét do bội
nhiễm vi khuẩn cần phối hợp thêm với kháng sinh. Bên cạnh các chỉ định trên,
thuốc chống nấm bôi tại chỗ còn được chỉ định trong điều trị viêm da dầu. Mặc
dù cơ chế của bệnh còn chưa được biết rõ nhưng việc dùng các thuốc chống nấm
bôi như ketoconazole và ciclopirox olamine giúp giảm rõ rệt tình trạng viêm và
đóng vảy.

thuoc_boi.jpgKháng sinh: Mặc dù có tới hàng trăm chế phẩm kháng
sinh khác nhau đã được bào chế và đưa vào sử dụng nhưng rất ít trong này có thể
dùng được ngoài da. Thuốc mỡ erythromycin và clindamycin thường được sử dụng
trong điều trị trứng cá mủ và viêm nang lông, trong khi đó, các loại mỡ
mupirocin, polymyxin, bacitracin và neomycin thường được dùng trong điều trị
các nhiễm trùng ngoài da như chốc… Thuốc mỡ kháng sinh cũng có tác dụng tốt
trong dự phòng nhiễm trùng các vết thương ngoài da. Viêm da tiếp xúc là tác
dụng phụ thường gặp với các loại mỡ chứa polymyxin, bacitracin và neomycin, do
đó nên tránh sử dụng các loại thuốc này nếu có thuốc thay thế thích hợp. Một số
trường hợp dị ứng nặng như hội chứng Stevens – Johnson và Lyell do các loại
kháng sinh bôi tại chỗ đã được ghi nhận.

Corticoid: Các loại corticoid bôi tại chỗ bắt đầu được
sử dụng trong thực tế từ năm 1960, chủ yếu trong điều trị các bệnh lý da do
viêm như chàm cơ địa, viêm da dầu, viêm da tiếp xúc, tổ đỉa… Một số bệnh lý
ngoài da khác như u lympho thể da, lupus ban đỏ, vảy nến, liken phẳng… cũng
có đáp ứng tốt với các thuốc này. Tác dụng phụ nguy hiểm nhất của corticoid bôi
tại chỗ là gây teo da. Biến chứng này thường xảy ra sớm với các loại corticoid
tác dụng mạnh như clobetasol propionate, fluocinolone acetonide… nhưng cũng
có thể gặp với các loại tác dụng yếu nếu sử dụng kéo dài và liên tục. Mặt, nếp
gấp và các vùng da mỏng thường bị teo nhanh nhất trong khi lòng bàn tay, bàn
chân thường teo da chậm nhất. Trẻ em có nguy cơ teo da cao nhất, dùng phối hợp
với corticoid toàn thân hoặc tiếp xúc nhiều với ánh nắng sau thoa thuốc cũng
làm tăng nguy cơ teo da. Biểu hiện của teo da bao gồm các vết bầm tím, da trở
nên bóng và có các khía. Các tác dụng khác thường gặp do corticoid bôi tại chỗ
bao gồm rối loạn sắc tố da, rậm lông, nổi mụn trứng cá, làm chậm liền vết thương…
Corticoid dùng kéo dài tại các vùng da quanh mắt còn có thể gây ra hoặc làm
nặng bệnh đục thủy tinh thể và thiên đầu thống. Ngoài ra, các loại tác dụng
mạnh nếu dùng kéo dài hoặc trên diện rộng cũng có thể gây ức chế tuyến thượng
thận. Trong một số ít trường hợp, corticoid bôi tại chỗ còn có thể gây ra viêm
da tiếp xúc, mặc dù các thuốc này có tác dụng chống dị ứng rất mạnh.

Tác dụng phụ của corticoid bôi phụ thuộc chủ yếu
vào cường độ tác dụng và thời gian sử dụng thuốTrẻref=”https://benh.edu.vn/benh-tre-em”>Trẻ emg khi đó, tác dụng điều
trị của các thuốc này tỷ lệ thuận với nguy cơ gây tác dụng phụ của thuốc. Các
biệt dược khác nhau của cùng một hoạt chất với cùng một hàm lượng cũng có thể
có hiệu quả điều trị và nguy cơ gây tác dụng phụ không giống nhau. Ngoài ra,
việc tăng hàm lượng của một hoạt chất corticoid trong thuốc bôi không làm tăng
đáng kể hiệu quả điều trị của thuốc, ví dụ, tác dụng chống viêm của mỡ
triamcinolone 0,1% không lớn hơn đáng kể so với mỡ triamcinolone 0,025%.

Một số điều cần lưu ý trong việc lựa chọn
corticoid bôi: Do corticoid bôi tại chỗ có nhiều nguy cơ gây tác dụng phụ nên
cần chẩn đoán xác định chính xác bệnh trước khi đưa ra quyết định sử dụng các
thuốc này. Việc lựa chọn corticoid bôi cần cân đối giữa hiệu quả điều trị với
nguy cơ tác dụng phụ. Điều trị các bệnh như liken phẳng, lupus ban đỏ ngoài da
thường đòi hỏi các thuốc corticoid bôi tác dụng mạnh, do các bệnh lý này thường
có tổn thương viêm ở các lớp sâu của da. Một số bệnh lý có tổn thương viêm da ở
quá sâu như sarcoidosis thường không đáp ứng với corticoid bôi tại chỗ do tác
dụng phụ của thuốc thường đến trước khi tác dụng chính xuất hiện. Các bệnh lý
có tổn thương da ở nông trên bề mặt như vảy nến, chàm cơ địa thường đáp ứng tốt
với các loại corticoid bôi tác dụng trung bình. Trong các trường hợp viêm da
mạn tính ở bàn tay (như trong bệnh vảy nến, chàm cơ địa), nên lựa chọn các loại
corticoid bôi tác dụng mạnh và dùng trong một thời gian ngắn để hạn chế nguy cơ
teo da lòng bàn tay. Nói chung, ở trẻ em nên lựa chọn các loại thuốc bôi có tác
dụng yếu như hydrocortisone, clobetasone butyrate…

Các thuốc bôi phối hợp: Hiện nay trên thị trường
có khá nhiều loại thuốc bôi phối hợp với thành phần chủ yếu bao gồm một loại
corticoid, một loại kháng sinh và một loại thuốc chống nấm. Nói chung, nên hạn
chế tối đa việc sử dụng các thuốc này trong thực tế, vì trong nhiều trường hợp,
các thành phần trong thuốc có thể cản trở hiệu quả của nhau. Ví dụ, trong
trường hợp nấm da, các chế phẩm có chứa corticoid sẽ làm bệnh nặng thêm và giảm
hiệu quả của thuốc chống nấm.    

BS. Nguyễn
Hữu Trường
Suckhoedoisong.vn

SHARE