Rối loạn vận động thực quản và thuốc điều trị

0
160
Rối loạn vận động thực quản và thuốc điều trị
Đánh giá!

Rối loạn vận động là một loại tổn thương bệnh lý mới được phát hiện,
chiếm một tỷ lệ cao, có đến hơn 30% dân chúng bị rối loạn này. Hiện tại chẩn
đoán và điều trị còn gặp ít nhiều khó khăn.

rl_thuc-quan.jpgThực quản là đoạn đầu của ống tiêu hóa cấu tạo bởi
hệ thống cơ vòng – cơ dọc
hết sức phức tạp, chịđầuchi phối của nhiều yếu tố đan xen, bao gồm hệ
thống
thần kinh trung ương, hệ thần kinh ngoại vi, nồng độ các loại hormon…
Chính
vì vậy, rối loạn vận động thực quản là một vấn đề rất phức tạp trong khi
sự
hiểu biết về chức năng sinh lý còn nghèo nàn.

Các rối loạn vận động của thực quản

Các rối loạn thường gặp nhất là co thắt thực quản
lan tỏa, co thắt tâm vị và
trào ngược dạ dày thực quản.

Co thắt tâm vị: Nguyên nhân do cơ thực quản không
giãn ra được. Giai đoạn
sớm có thể đau nhiều khi nuốt thức ăn hoặc có biểu hiện khó nuốt. Khi
bệnh đã
tiến triển, thực quản dần dần nở ra sẽ giảm đau nhưng khó nuốt gia tăng.
Điều
trị chủ yếu là sử dụng các ống nong hoặc phẫu thuật cắt cơ vòng thực
quản;
những thuốc có tác dụng làm giãn đoạn dưới cơ thực quản chỉ được sử dụng
trong
giai đoạn sớm.

Co thắt thực quản lan tỏa: Co thắt thực quản lan
toả cũng gây đau ngực nhưng
ít hơn co thắt tâm vị. Ở đây do mất sự phối hợp vận động của cơ, do đó
chỉ có
nhu động của lớp cơ đoạn dưới thực quản. Điều trị bằng các thuốc làm
giảm cơ
vòng thực quản.
thuốc

Trào ngược dạ dày thực quản: Nguyên nhân gây bệnh
vẫn còn chưa rõ, tuy vậy
người ta nói nhiều tới vai trò của cơ thắt thực quản dưới. Các tác nhân
làm yếu
hoặc gây giãn cơ góp phần gây ra bệnh trào ngược dạ dày – thực quản như:
uống
rượu, hút thuốc; thức ăn chứa nhiều gia vị, mỡ, cà phê, sôcôla; các tình
trạng bệnh
lý như béo phì, đái tháo đường, ở phụ nữ có thai, thoát vị hoành… Bệnh
nhân
thấy nóng rát từ vùng thượng vị, lan ngược lên phía sau xương ức có khi
lên tận
cổ họng; tăng lên sau khi ăn, khi nằm xuống hoặc ưỡn người về phía
trước. Ngoài
các triệu chứng trên có thể gặp các triệu chứng như nuốt đau, nôn, ợ
hơi; khàn
tiếng, đau họng, ho; tăng tiết nước bọt; hen phế quản… Hiện nay điều
trị với
thuốc ức chế bơm proton khá hiệu quả, bên cạnh việc dùng thuốc thì việc
duy trì
chế độ ăn uống sinh hoạt hợp lý sẽ góp phần quan trọng trong việc điều
trị bệnh
lý trào ngược dạ dày thực quản.

Những thuốc thường được cân nhắc sử dụng

Metoclopramid (biệt dược primperan, anausin) viên
10mg. Tác dụng trung ương
vào vùng lẩy cò của não thất và có tác dụng lên các lớp cơ ống tiêu hoá.
Nó làm
gia tăng vận động, thúc đẩy mở môn vị. Dẫn đến làm vơi dạ dày và cũng
làm giảm
trào ngược dạ dày thực quản. Tác dụng phụ: gây buồn ngủ và tăng trương
lực ngoại
tháp.

Domperidon (biệt dược motilium, peridy): viên nén
10mg, dịch treo uống
1mg/ml, thuốc đạn 10 và 30mg. Đây là thuốc kháng dopaminergic ngoại
biên, nó cố
định vào thụ thể D2 ngoại biên và không qua hàng rào máu não. Có tác
dụng làm
tăng áp lực cơ vòng đoạn dưới thực quản do đó làm tăng sự vơi dạ dày dẫn
đến
làm giảm trào ngược. Thuốc chống chỉ định với chảy máu dạ dày ruột, tắc
ruột,
nguy cơ thủng ở ống tiêu hoá.

Sulpirid (biệt dược Dogmatil) viên 50mg, có tác
dụng làm gia tăng trương lực
đoạn dưới cơ vòng thực quản, nó cũng có tác dụng vào hệ thần kinh trung
ương
như các thuốc ngủ, do đó có tác dụng phụ là buồn ngủ, gây hội chứng
ngoại tháp,
chảy sữa, bất lực, vú phụ. Liều thường dùng 100 – 300 mg/ngày bằng đường
uống.

Metopimazin (biệt dược vogalen), viên bọc đường
2,5mg, thuốc giọt
0,1mg/giọt, thuốc đạn 5mg, thuốc tiêm 10mg/1ml. Đây là thuốc chống nôn
kháng
tiết dopamin có tác dụng chọn lọc trên khu vực lẩy cò hoá học của não
thất IV.
Thuốc có tác dụng làm thay đổi vận động ống tiêu hoá nhưng không làm
tăng sự
vơi dạ dày, do đó nó không làm cản trở sự hấp thu tiêu hoá cao của các
thuốc phối
hợp.

Alizaprid (Plitican): Là thuốc chống nôn mạnh thuộc
nhóm benzamid (là chất
đối kháng với dopamin), có tác dụng an thần nhẹ, không có tính chất
kháng
cholin. Nhưng tác dụng phụ có thể gặp là: buồn ngủ, hiếm khi có chóng
mặt, nhức
đầu, mất ngủ, rối loạn ngoại tháp, tăng prolactin, làm chảy sữa, phát
triển vú
phụ, rối loạn kinh nguyệt thậm chí gây mất kinh, giảm huyết áp thế đứng
khi
tiêm tĩnh mạch liều cao.

Thuốc kháng thụ thể 5 HT3: anzemet, zophren: là
thuốc đối kháng chọn lọc lên
thụ thể 5 HT3 của serotonin, đây là thuốc chống nôn mạnh, thường dùng
trong
chống nôn do dùng thuốc chống ung thư, hoặc nôn sau phẫu thuật. Tác dụng
phụ:
nhức đầu, táo bón, cơn phừng mặt, nóng thượng vị, chóng mặt, tăng men
transaminase thoáng qua.

Trong một số trường hợp, nhất là trong trào ngược
dạ dày thực quản, tùy theo
điều kiện cụ thể của bệnh nhân, cần cân nhắc sử dụng thêm các nhóm thuốc
tạo
màng ngăn dạ dày – thực quản (alginat, dimeticol), thuốc có tác dụng bảo
vệ
niêm mạc thực quản (sucralfat), thuốc kháng acid, thuốc kháng thụ thể
H2, thuốc
ức chế bơm proton, kháng sinh, các thuốc an thần và vitamin nếu thấy cần
thiết.

Tóm lại, rối loạn vận động thực quản là vấn đề khá
phức tạp, chẩn đoán điều
trị còn gặp khó khăn, do vậy, người bệnh cần gặp bác sĩ sớm khi có các
biểu
hiện bất thường ban đầu, tránh để tình trạng mắc bệnh kéo dài sẽ gây khó
khăn
cho điều trị.

nhức
đầu
/chong-mat.html”>chóng
mặt;”>ThS. Nguyễn Bạch Đằng
suckhoedoisong.vn

SHARE