Những điều nên làm và nên tránh đối với bệnh nhân Guot

0
217
Những điều nên làm và nên tránh đối với bệnh nhân Guot
Đánh giá!

Những điều nên làm và nên tránh đối với bệnh nhân Guot

 

PTS. BS LÊ ANH THƯ

 

Bệnh viện Chợ Rẫy

 

Bệnh Gout (bệnh
thống phong) là một bệnh khớp do rối loạn chuyển hóa purin ở người, nguồn
gốc từ việc tăng tiêu hủy các acid nhân của các tế bào và/hoặc giảm thải
acid uric ra ngoài gây tăng acid uric trong máu, mà hậu quả là gây các đợt
viêm khớp cấp, gây các tophy, gây sỏi thận, gây suy thận. Bệnh Gout có thể
được kiểm soát tốt bằng chế độ thuốc men đều đặn và liên tục, phối hợp với
chế độ ăn uống sinh hoạt hợp lý. Vì là một bệnh diễn tiến kéo dài, phải điều
trị liên tục để tránh tái phát, nên người bệnh cần phải được theo dõi lâu
dài bởi các bác sĩ chuyên khoa. Sự hiểu biết về bệnh và việc tuân thủ điều
trị của người bệnh có vai trò rất quan trọng đối với kết quả điều trị.

 

Bệnh Gout là một bệnh khớp do rối loạn chuyển
hóa purin ở người, nguồn gốc từ việc tăng tiêu hủy các acid nhân của các tế
bào và/hoặc giảm bài xuất acid uric qua thận, gây tăng acid uric trong máu,
mà hậu quả là gây các đợt viêm khớp cấp, gây các tophy, gây sỏi thận, gây
suy thận. Bệnh Gout có những đặc điểm lâm sàng khá đặc biệt, tương đối dễ
nhận biết, nếu được quan sát kỹ (đặc biệt ở những năm đầu của bệnh) như:

 

·

Thường gặp ở nam giới (trên 95%), khỏe mạnh, mập mạp

 

·

Thường bắt đầu vào tuổi 35 đến 45 (cuối thập niên thứ 3 và đầu thập niên thứ
4)

 

·
Khởi
bệnh đột ngột, diễn biến từng đợt, giữa các đợt đau các khớp hoàn toàn khỏi
(những năm đầu)

 

·
Vị
trí bắt đầu thường là các khớp ở chi dưới, đặc biệt ngón I bàn chân (70%)

 

·
Tính
chất sưng nóng đỏ đau dữ dội, đột ngột ở một khớp, không đối xứng và có thể
tự khỏi sau 3 – 7 ngày. Ở giai đoạn muộn biểu hiện ở nhiều khớp, có thể đối
xứng, xuất hiện những u cục (tophy) ở nhiều nơi đặc biệt quanh các khớp.
Trong giai đoạn cấp có thể kèm các dấu hiệu toàn thân như: sốt cao, lạnh
run, đôi khi có dấu màng não (cổ cứng, ói…)

 

·

thể có các bệnh tăng huyết áp, tiểu đường, rối loạn lipid máu… kèm theo.

 

Việc điều trị bệnh nhằm mục đích làm giảm đau giảm
viêm (khi viêm cấp) giảm và duy trì lượng acid uric máu ở mức bình thường để
khỏi tái phát viêm khớp, bảo vệ thận khỏi sỏi thận và suy chức năng thận.

 

1. Về chế độ ăn
uống

 

Để làm giảm acid uric máu
cần hạn chế ăn các thức ăn chứa nhiều purin (chứa nhiều acid nhân tế bào)
như tim, gan, thận, óc, trứng lộn, cá chích, cá đối. Đây là những loại thức
ăn giàu đạm.

 

Tuy nhiên, chất đạm là
một thành phần quan trọng trong dinh dưỡng của mọi lứa tuổi đặc biệt ở người
có tuổi. Vì vậy, không thể loại bỏ hoàn toàn chất đạm trong khẩu phần ăn
hàng ngày nhưng cũng đừng vượt quá nhu cầu thiết yếu về đạm của cơ thể.

 

Ơû người lớn nhu cầu về
đạm là 1 g/kg trọng lượng/ngày (nhu cầu này sẽ tăng trong một số trạng thái
cơ thể đặc biệt: có thai, gắng sức, bị bệnh.).

 

Các loại thức ăn: tôm,
cua, sò, ốc, hến, ếch, cá nước ngọt, thịt chim, trứng, đạm thực vật, cá biển
nói chung. đều không cần kiêng tuyệt đối. Miễn sao, số lượng đạm từ các thức
ăn đó không vượt quá nhu cầu cần thiết hàng ngày.

 

Không uống rượu, hạn chế
uống bia, không ăn uống quá mức.

 

Chân giò heo, là loại
thức ăn chứa nhiều mỡ (lipid), không có lợi cho sức khỏe người có tuổi,
không nên ăn thường xuyên, đặc biệt khi người bệnh có kèm rối loạn các thành
phần của lipid máu (Cholesterol, Triglyceride,
b
Lipoproteine, HDL-C, LDL-C, VLDL-C.)

 

Nên tăng cường ăn rau
xanh, uống nhiều nước, uống các loại nước khoáng có nhiều gas (bicarbonate)
vì sẽ làm kiềm hóa nước tiểu và tăng mức lọc cầu thận, thuận lợi cho việc
thải bớt acid uric ra ngoài.

 

Bảng dưới đây là lượng
đạm có trong một số thực phẩm thường dùng

 

Thực phẩm (100 g)

Lượng đạm (Gam)

Sữa bò tươi

3,9

Sữa đặc có đường

8,1

Sữa chua

3,7

Sữa đậu nành

3,9

Phomat

10-20

Trứng gà tươi

11,6

Trứng vịt tươi

14,2

Thịt bò nạc

20

Thịt trâu nạc

21,9

Thịt thỏ nạc

21,5

Thịt lợn nạc

19

Thịt gà nạc

22,4

Thịt vịt nạc

17,8

Thịt ngỗng nạc

18,4

Thịt ếch

20,0

Thịt cá lóc

18,2

Thịt cá chép

16,5

Thịt cá trê

16,5

Thịt lươn

20,0

Thịt tôm

18,4

Thịt cua biển

17,5

Đậu hũ

10,9

Đậu phọng (lạc)

27,5

Đậu nành

34

Đậu xanh

23,4

Mè (vừng)

20,1

2. Về việc sử dụng
thuốc

 

Các thuốc kháng viêm giảm
đau chỉ dùng khi có cơn viêm khớp, nhằm cắt cơn viêm càng sớm càng tốt. Càng
ít dùng càng tốt vì tác dụng phụ của thuốc sẽ tăng theo số lượng thuốc dùng,
thời gian dùng và tuổi của người bệnh.

 

Để điều trị tận gốc các
hậu quả (gây các đợt viêm khớp cấp, gây sỏi thận, gây suy thận.) của căn
bệnh này cần phải giảm bớt lượng acid uric máu bằng thuốc ức chế tổng hợp
acid uric và/ hoặc các thuốc làm tăng thải acid uric ra ngoài, các thuốc làm
giảm acid uric máu sẽ phải dùng lâu dài (nhiều năm), dùng liên tục, không
ngắt quãng. Liều lượng và loại thuốc do các bác sĩ điều trị chọn lựa và điều
chỉnh tùy theo lượng acid uric máu, tuổi và tình trạng sức khỏe của người
bệnh. Mục tiêu của việc dùng thuốc này là giảm acid uric máu tới mức bình
thường và duy trì mức đó lâu dài, bảo đảm không bị lắng đọng acid uric ở các
cơ quan: khớp (gây tái phát viêm khớp), thận (gây sỏi thận hay suy thận)…

 

Allopurinol (biệt dược là
Zyloric) là thuốc rất thường dùng để giảm acid uric máu, vì thuốc ức chế
tổng hợp acid uric.

 

Ngoài ra có thể dùng các
thuốc tăng thải acid uric qua đường thận như Probenecide, Sulfinpyrazone,
thuốc làm tan sỏi Urate (Cốm Piperazine Midy), thuốc làm tiêu hủy acid Uric
(Uricozyme). nhưng cần chú ý tới các chống chỉ định của thuốc.

 

Riêng ở người trên 60
tuổi, Allopurinol là thuốc thường được chọn lựa để làm giảm acid uric máu.

 

Các thuốc làm giảm acid
uric đều đòi hỏi phải dùng liên tục nhiều năm vì đây chính là việc phòng
ngừa bệnh tái phát.

 

Lượng acid uric máu phải
được giảm tới mức bình thường (dưới 5 mg% hay dưới 300 (mol/L) và duy trì ở
mức này bằng thuốc và chế độ ăn uống. Việc theo dõi định kỳ lượng acid uric
trong máu, chức năng gan, thận là rất cần thiết để các thầy thuốc điều chỉnh
liều lượng thuốc cho phù hợp và theo dõi ảnh hưởng của thuốc với cơ thể
người bệnh.

 

Khi đang dùng Allopurinol

 

– Cố gắng tránh sử dụng
các kháng sinh nhóm ( Lactam (nhóm Penicillines, đặc biệt là Ampicilline và
Amoxyclin) vì Allopurinol làm tăng khả năng dị ứng của các kháng sinh này
lên nhiều lần).

 

– Thận trọng khi dùng các
thuốc ức chế men chuyển (đặc biệt là Captopril) vì thuốc này làm tăng khả
năng dị ứng với Allopurinol.

 

– Không nên dùng
Corticosteroids và Aspirin dài ngày vì hai loại thuốc này ảnh hưởng không
tốt đến bệnh và gây tăng acid uric máu.

 

– Không dùng các thuốc
lợi tiểu thiazide vì cản trở thải acid uric qua đường tiểu và tăng khả năng
dị ứng Allopurinol.

 

Khi cần sử dụng thuốc hạ
sốt người bệnh có thể dùng là Paracetamol.

 

Khi bị các viêm nhiễm cần
điều trị kháng sinh, người bệnh nên báo cho bác sĩ biết mình đang dùng
Allopurinol và các bác sĩ sẽ cho dùng kháng sinh thuộc các nhóm khác như:
Erythromycine, Rovamycin, Tetracycline, Bactrim, Ciprofloxacine, Pefloxacin,
Ofloxacin, Norfloxacin,.

 

Các thuốc lợi tiểu khác,
lợi tiểu đông, nam dược đều có thể dùng. Các thuốc lợi tiểu thảo dược thường
làm tăng lưu lượng dịch tới thận, tăng mức lọc cầu thận, làm kiềm hóa nước
tiểu, không thải muối. nên thuận lợi cho việc thải acid uric, (đặc biệt là
lá xakê). Có thể kết hợp với các thuốc này để tăng cường và củng cố kết quả
điều trị. Nhiều trường hợp còn làm giảm bớt liều thuốc phải sử dụng

 

3. Chế độ sinh hoạt

 

Ngâm chân nước nóng hàng
tối là có ích, có thể làm thường xuyên, nhưng không nên dùng nước quá nóng,
cũng không nên ngâm lúc đang bị viêm cấp.

 

Tắm sông, tắm biển là rất
tốt, điều này hoàn toàn khác với việc dầm mưa lạnh hay bị lạnh đột ngột.

 

Tránh gắng sức, tránh
căng thẳng, tránh thức quá khuya, tránh lạnh, tránh dầm mưa lạnh.

 

Cần duy trì một chế độ
tập luyện, vận động thường xuyên, vừa sức.

 

Khi bệnh chuyển sang mãn
tính cần có chế độ tập luyện thường xuyên, kết hợp với vật lý trị liệu và
phục hồi chức năng để tránh teo cơ, cứng khớp và hạn chế biến dạng khớp.

 

Kết luận: Ở nước ta, bệnh Gout ngày càng đã
trở nên phổ biến. Mọi người cần cảnh giác với các hiện tượng sưng đau đột
ngột, bất thường ở ngón chân, bàn chân, cổ chân… đặc biệt ở nam giới tuổi
trung niên. Khi có bệnh cần tới các thầy thuốc chuyên khoa sớm để được chẩn
đoán xác định và điều trị kịp thời. Lúc đầu bệnh tưởng như có thể khỏi hẳn
trong một thời gian dài nhưng các rối loạn bên trong thì không thể khỏi và
trước sau thế nào cũng sẽ biểu hiện và nặng dần lên. Việc phát hiện bệnh
sớm, điều trị đúng và sớm, duy trì một nếp sinh hoạt, ăn uống phù hợp có ý
nghĩa quan trọng trong việc kiểm soát và phòng ngừa bệnh, tránh các hậu quả
xấu ở khớp, ở thận và ở các cơ quan liên quan đặc biệt là tim mạch.

 

Thực phẩm (100 g)

Lượng đạm (Gam)

SHARE