Dấu hiệu và cách chăm sóc bệnh nhân bị thủy đậu

0
7
Dấu hiệu và cách chăm sóc bệnh nhân bị thủy đậu
Đánh giá!

Bệnh thủy đậu là một
bệnh truyền nhiễm, do virus Varicella Zoster gây ra và thường bùng phát thành
dịch vào mùa xuân – hè. Tuy là một loại bệnh lành tính song người bị thủy đậu
nếu không được chăm sóc và chữa trị đúng cách có thể bị biến chứng nguy hiểm.

Bệnh thủy
đậu dễ lây lan trong cộng đồng

Virus gây bệnh thủy đậu lây chủ yếu qua
đường hô hấp (hoặc không khí), người lành dễ bị nhiễm bệnh nếu hít phải những
giọt nước bọt bắn ra khi bệnh nhân thủy đậu ho, hắt hơi hoặc nhảy mũi… nhất là
trẻ em.

Một số cách lây nhiễm khác có thể xảy ra
nếu chúng ta không cẩn thận khi tiếp xúc với bệnh nhân thủy đậu như: bệnh có
thể lây từ bóng nước khi bị vỡ ra, lây từ vùng da bị tổn thương hoặc lở loét từ
người mắc bệnh.

Đặc biệt, phụ nữ mang thai không may bị
nhiễm bệnh sẽ rất dễ lây cho thai nhi thông qua nhau thai.

Triệu
chứng bệnh thủy đậu

BS. Nguyễn Hồng Phong – Khoa Nhi, Bệnh
viện Bạch Mai cho biết: Khi khởi phát, người bệnh có thể có biểu hiện sốt, đau
đầu, đau cơ, một số trường hợp nhất là trẻ em có thể không có triệu chứng báo
động. Sau đó cơ thể người bệnh sẽ xuất hiện những “nốt rạ”. Đây là những nốt
tròn nhỏ xuất hiện nhanh trong vòng 12 – 24 giờ, các nốt này sẽ tiến triển
thành những mụn nước, bóng nước.

thuy_dau.jpg 

Điều quan trọng nhất
trong điều trị, chăm sóc BN thủy đậu là làm sạch da và vệ sinh thân thể.

Nốt rạ có thể mọc khắp toàn thân hay mọc
rải rác trên cơ thể, số lượng trung bình khoảng 100 – 500 nốt. Trong trường hợp
bình thường những mụn nước này khô đi, trở thành vảy và tự khỏi hoàn toàn trong
4 – 5 ngày. Ở trẻ em, thủy đậu thường kéo dài khoảng 5 – 10 ngày dẫn đến việc
phải nghỉ học hoặc nghỉ đến nơi giữ trẻ.

Biến
chứng của bệnh thủy đậu

Các bác sĩ khuyến cáo, thủy đậu là một
bệnh lành tính nhưng cần được phát hiện sớm và chăm sóc chu đáo, nếu không được
điều trị kịp thời và đúng cách sẽ gây nhiều biến chứng nguy hiểm như: viêm màng
não, xuất huyết, nhiễm trùng huyết, nhiễm trùng nốt rạ, viêm mô tế bào… Một số
trường hợp có thể gây tử vong nếu người bệnh không được điều trị kịp thời.
Người mẹ mắc bệnh thủy đậu khi đang mang thai có thể sinh con bị dị tật bẩm
sinh sau này.

Chứng viêm phổi do thủy đậu, ít khi xảy
ra hơn, nhưng rất nặng và rất khó trị. Sau thủy đậu, trẻ bỗng trở nên vật vã,
quờ quạng chân tay, nhiều khi kèm theo co giật, hôn mê. Những trường hợp này có
thể gây chết người nhanh chóng, và một số trẻ tuy qua khỏi được vẫn mang di
chứng thần kinh lâu dài: bị điếc, bị khờ, bị động kinh v.v…

Chăm sóc
người bệnh bị thủy đậu

BS. Phong nhấn mạnh điều quan trọng nhất
trong điều trị, chăm sóc bệnh nhân thủy đậu là làm sạch da và vệ sinh thân thể;
Tránh làm vỡ các nột thủy đậu vì dễ gây bội nhiễm và có thể tạo thành sẹo lâu
dài. Quan niệm dân gian cho rằng khi bị thủy đậu phải tuyệt đối kiêng gió,
kiêng nước là không hoàn toàn đúng. Trẻ vẫn cần được thay quần áo và tắm rửa
hàng ngày bằng nước ấm trong phòng kín để tránh bội nhiễm.

Người bị thủy đậu cần được nằm trong
phòng riêng, thoáng khí, có ánh sáng mặt trời, thời gian cách ly là khoảng 7
đến 10 ngày từ lúc bắt đầu phát hiện bệnh (phát ban) cho đến khi các nốt phỏng
nước khô vảy hoàn toàn (người lớn phải nghỉ làm, học sinh phải nghỉ học). Sử
dụng các vật dụng sinh hoạt cá nhân riêng: khăn mặt, ly, chén, muỗng, đũa.

Bác sĩ cũng lưu ý, người bị thủy đậu cần
được bổ sung thêm vitamin C, nhỏ mũi 2 lần/ngày, mặc quần áo vải mềm, thấm hút
mồ hôi. Đối với trẻ em: nên cắt móng tay cho trẻ, giữ móng tay trẻ sạch hoặc có
thể dùng bao tay vải để bọc tay trẻ nhằm tránh biến chứng nhiễm trùng da thứ
phát do trẻ gãi gây trầy xước các nốt phỏng nước.

Khi chăm sóc và cần tiếp xúc với người
bệnh thủy đậu thì phải đeo khẩu trang y tế. Sau khi tiếp xúc phải rửa tay ngay
bằng xà phòng. Đặc biệt những phụ nữ đang mang thai cần tuyệt đối tránh tiếp
xúc với người bệnh.

Dùng dung dịch xanh Milian (xanh
Methylene) để chấm lên các nốt phỏng nước đã vỡ. Trường hợp sốt cao, có thể
dùng các thuốc hạ sốt giảm đau thông thường nhưng phải theo hướng dẫn của thầy
thuốc (không được dùng thuốc Aspirin để hạ sốt). Nếu bệnh nhân cảm thấy khó
chịu, lừ đừ, mệt mỏi, co giật, hôn mê hoặc có xuất huyết trên nốt rạ nên đưa
đến ngay các cơ sở y tế để được theo dõi và điều trị.

Tiêm vắc
xin là cách phòng bệnh hữu hiệu

Mặc dù bệnh có thể lây lan nhanh chóng
trong cộng đồng, nhưng hiện tại đã có biện pháp chủ động để phòng ngừa bệnh
thủy đậu, đó là chủng ngừa bằng vắc-xin.

Đối với trẻ từ 12 tháng tuổi tới 12
tuổi, tiêm 1 liều và liều thứ 2 nên tiêm thêm cách liều thứ nhất 6 tuần trở đi
để gia tăng hiệu quả phòng bệnh và giảm việc mắc bệnh thuỷ đậu trở lại mặc dù
trước đó đã tiêm ngừa.

Đối với trẻ trên 13 tuổi, thanh niên và
người lớn, tiêm 2 liều cách nhau tốt nhất là sau 6 tuần. Phụ nữ trong độ tuổi
sinh đẻ (15 đến 49 tuổi) nên tiêm vắc xin thủy đậu trước khi mang thai 3 tháng
(Không tiêm vắc xin thuỷ đậu cho phụ nữ đang
mang thai).

Bài: Mai Thanh

SHARE