Cách xử lý nhanh khi bị bỏng

0
158
Cách xử lý nhanh khi bị bỏng
Đánh giá!

Xử trí nhanh khi bị bỏng

Chăm sóc vết thương do bỏng gây ra.

Các vết bỏng nặng rất dễ gây biến chứng như choáng, nhiễm trùng, sẹo xấu, sẹo co rút làm biến dạng hình dáng hoặc co các khớp xương nơi bị bỏng… Nếu được xử lý kịp thời và đúng cách, người bệnh có thể sẽ không phải gánh chịu những hậu quả nặng nề như trên.

Bỏng do nhiệt, dù là nguyên nhân gì, cũng cần được xử trí tức thì:

– Ngay lập tức đặt phần bỏng xuống dưới vòi nước máy trong 20-30 phút, nhằm mục đích giảm đau, nguyên nhân gây choáng cho bệnh nhân. Mặt khác, độ lạnh của nước cũng hạn chế tối đa mức lan toả thương tổn do nhiệt ngấm, ngăn không cho thương tổn lan dần từ nông tới sâu hay sang các vùng lân cận. Nước còn làm sạch, giảm nhiễm trùng tại vết bỏng.

– Phủ vùng bỏng bằng một miếng vải vô trùng, gạc vô trùng bán sẵn hoặc những tấm vải sạch mỏng. Nếu có điều kiện thì cho bệnh nhân uống nhiều nước, thuốc an thần và kháng sinh, sau đó chuyển nhanh tới một cơ sở y tế, khoa ngoại của bệnh viện.

Phân loại bỏng

Cần nhận biết thế nào là bỏng nặng phải điều trị tại bệnh viện và thế nào là bỏng thường hay nhẹ, có thể điều trị ngoại trú tại nhà. Việc đánh giá dựa vào 2 tiêu chuẩn là độ bỏng (độ sâu của tổn thương) và diện tích của da bị bỏng.

Bỏng được chia làm 3 độ:

Độ 1: Vùng da đỏ và đau rát, tương tự như da bị phơi nắng lâu trên bãi biển. Khi lành không để lại di chứng trên da.

Độ 2: Bệnh nhân đau rất nhiều, sau đó xuất hiện những nốt phỏng như bong bóng nước lúc trời mưa, bên trong mọng nước. Nếu điều trị đúng cách, không bị nhiễm trùng và không để tổn thương lan sâu hơn, bỏng loại này khi khỏi sẽ không để lại sẹo.

Độ 3: Đau ít hơn, vùng da bỏng căng cứng, đen hoặc trắng nhợt. Thương tổn ngấm gần hết chiều dày của da hoặc qua lớp da lan đến lớp cơ, thậm chí tới xương. Bỏng độ 3 bao giờ cũng để lại sẹo.

Về diện tích da bị bỏng, có một cách tính rất đơn giản: Diện tích một lòng bàn tay bằng 1% diện tích da của mỗi người.

Bỏng độ 2, trên 10% ở trẻ em và 20% ở người lớn được coi là bỏng nặng, có thể gây ra các biến chứng như choáng do đau, nhiễm trùng (có khi nhiễm trùng máu và uốn ván, nhiễm trùng kéo dài dẫn đến suy nhược toàn thân), sẹo xấu, sẹo co rút làm biến dạng hình dáng (như co kéo vùng mặt, dính các ngón tay chân, co các khớp xương). Người bị bỏng nặng, trẻ em bị bỏng ở những nơi như mặt, cổ bắt buộc phải được điều trị tại bệnh viện, các cơ sở chuyên khoa.

Đối với bỏng độ 1, độ 2, diện tích nhỏ thì bệnh nhân có thể điều trị tại nhà hay ngoại trú sau khi được bác sĩ khám, đánh giá, hướng dẫn cách điều trị, chăm sóc.

BS Phạm Đình Châu, SK&ĐS