Các thuốc điều trị viêm ruột

0
66
Các thuốc điều trị viêm ruột
Đánh giá!

Bệnh viêm ruột gồm có hai dạng chính: bệnh
Crohn và viêm loét ruột kết mạn tính. Bệnh Crohn được đặc trưng có những vùng
của dạ dày – ruột bị dày lên, có viêm lan ra tất cả các lớp, loét sâu và lớp
niêm mạc nứt nẻ xuất hiện u hạt. Tổn thương có thể ở bất kỳ chỗ nào của dạ dày
– ruột, xen kẽ vào những vùng mô tương đối bình thường. Đoạn cuối của hồi tràng
hay bị bệnh hơn cả. Bệnh viêm loét ruột kết mạn tính khu trú ở ruột kết và trực
tràng. Viêm ở bề mặt nhưng liên tục, trong vùng tổn thương ít thấy u hạt.

viemruot.jpgNhững thuốc dùng trong điều trị hai dạng
viêm ruột là giống nhau. Các corticosteroid hoặc aminosalicylat là thuốc
lựa
chọn đầu tiên ở dạng bệnh hoạt động. Corticoid có hoạt tính rthuốc
thuốc ưu
tiên dùng trong những ca bệnh nặng nhất, liều dùng và đường dùng thuốc
phụ
thuộc vđầuc độ nghiêm trọng của bệnh. Với bệnh Crohn, chế độ ăn uống
có vai trò
quan trọng, nhưng với bệnh viêm ruột kết mạn tính loét thì chế độ ăn
uống có
vai trò thấp hơn. Hợp chất amino salycilat và dẫn chất dùng để điều trị
các ca
bệnh nhẹ và có vai trò đặc biệt trong điều trị bệnh viêm ruột kết mạn
tính
loét, nhưng vai trò của những thuốc này trong điều trị bệnh Crohn chưa
được xác
định rõ. Các chất ức chế miễn dịch có thể có ích trong bệnh mạn tính,

Dạng bệnh hoạt động: sulfasalazin uống,
một dẫn chất của 5-amino salycilat là thuốc chủ yếu cho dạng bệnh hoạt
động. Nó
làm bệnh mạn tính loét nhẹ và vừa hồi phục với bệnh Crohn ở kết tràng,
kết quả
cũng tốt như vậy nhưng ở hồi tràng thì kết quả không nhất quán.

Từ sulfasalazin đã mở đường cho việc phát
triển một loạt dẫn chất, trong đó có mesalazin là chính phân tử acid
5-amino salicylic
giải phóng chậm, olssalazin (2 phân tử acid 5-amino salicylic liên kết
với nhau
qua cầu nối azo) và nhiều thứ thuốc khác nữa. Tất cả các thuốc trên đều
có hoạt
tính với viêm ruột kết tràng loét mạn tính hoạt động, lại dung nạp tốt
hơn
sulfasalazin vì chất sulfasalazin có  nhiều tác dụng phụ mà chủ yếu 
là do phần sulffonamid gây ra. Nhưng với những bệnh nhân dung nạp tốt 
sulfasalazin thì các thuốc mới không có ưu điểm gì hơn.

Cũng giống như với bệnh Crohn, mesalazin
cũng có tác dụng trên bệnh nhân có bệnh viêm ruột kết. Thuốc quan trọng
thứ hai
dùng trong điều trị viêm ruột kết mạn tính loét là các corticosteroid.
Với bệnh
cấp tính từ vừa đến nặng, các corticois dùng toàn thân được lựa chọn đầu
tiên.
Prednison hay prednisolon đường uống hay được sử dụng. Trong những
trường hợp
nặng nhất thì tiêm tĩnh mạch hydrocortison hay methylprednisolon hay
methylpresnisolon. Ban đầu dùng liều cao, sau giảm dần khi triệu chứng
được cải
thiện, nhưng tác dụng phụ của cách dùng này là vấn đề cần quan tâm, Vì
vậy,
người ta chú ý đến những corticosteroid khó hấp thu hoặc  chuyển hóa
nhanh
như beclomethason, budesonid, fluticason, tixocortol. Budesonid dùng
đường uống
gây thoái triển bệnh Crohn và tác dụng tương đương với các
corticosteroid thường
dùng, nhưng tác dụng phụ ít hơn. Nó có hiệu quả hơn mesalazin trong
trường hợp
bệnh Crohn ở hồi tràng hay kết tràng, hay cả hai.

Ở những bệnh nhân có bệnh ở giai đoạn cuối
của kết tràng hay trực tràng thì có thể dùng thuốc tại chỗ: các thuốc
đạn
prednisolon hay mesalazin là thích hợp. Nhưng đối với viêm trực kết
tràng thì
thuốc thụt thích hợp hơn. Dùng dung dịch thụt corticosteroid hay
mesalazin.
Kết  quả cho thấy, dùng mesalazin đường trực tràng để điều trị viêm kết
tràng mạn  tính loét. Dùng kết hợp mesalazin với corticosteroid đường
toàn
thân chỉ dành riêng cho những bệnh nhân không đáp ứng với liệu pháp dùng
tại chỗ.

Các thuốc khác dùng trong bệnh viêm ruột
hoạt động phải kể đến thuốc ức chế miễn dịch. Nhiều nghiên cứu tập trung
vào
các chất azathioprin hay chất chuyển hóa của nó là mercaptopurin. Thuốc
thể
hiện hiệu quả chậm, nhưng có ích cho những bệnh nhân bị bệnh Crohn, nhất
là bị
rò và cho những ca viêm kết tràng mạn tính loét khó trị. Nhưng kết quả
tốt nhất
đạt được với những bệnh nhân đang dùng corticosteroid, rồi dùng thêm các
chất
ức chế miễn dịch. Methotrexat liều thấp có ích với bệnh Crohn và bệnh
viêm ruột
kết mạn tính loét, nhưng ciclosporin thì kết quả kém.

Metronidazol có tác dụng hạn chế trong
viêm ruột nhưng lại có tác dụng trong những biểu hiện của bệnh Crohn
vùng đáy chậu.
Các kháng sinh khác được dùng theo kinh nghiệm: ciprofloxacin được ưa
chuộng,
nhưng thiếu bằng chứng  thuyết phục và đã được dùng kết hợp với
metronidazol và liệu pháp không được dung nạp tốt. Ritarubin được dùng
kết hợp
với một macrolid (clarithromycin hay azithromycin) tỏ ra có hiệu quả.

Một số thuốc đã được dùng trong viêm ruột
hoạt động: các globulin, miễn dịch, các interferon, các acid béo chuỗi
ngắn, heparin,
yếu tố XIII, chloroquin, triglycerid của các acid omega3, omeprazol
camostat
mesylat, ketotifen, infliximad. Các chất ức chế yếu tố gây hoại tử khối u
như:
thalidomid, oxypentifyllin đã được thử, trong đó thalidomid có một số
kết quả
tốt.

Các thuốc chống tiêu chảy phải dùng cẩn
thận và trong viêm ruột nặng phải tránh hoàn toàn loại thuốc này vì nguy
cơ gây
độc  cho ruột  kết to. Trong trường hợp bệnh nặng, phải chống suy
dinh dưỡng.

Điều trị duy trì: thuốc 5-aminosalicylat
làm cho bệnh viêm ruột kết mạn tính loét đã thuyên giảm được ổn định.
Mesalazin
có thể làm giảm những đợt tái phát bệnh Crohn sau khi xử lý phẫu thuật.
Nói
chung các corticoid không có hiệu quả trong duy trì cả hai bệnh.

DS. Phạm
Thiệp


suckhoedoisong.vn

 

SHARE