Các loại bệnh thấp khớp, nguyên nhân và cách điều trị

0
835
Các loại bệnh thấp khớp, nguyên nhân và cách điều trị
Đánh giá!

Các loại bệnh thấp khớp, nguyên nhân và cách điều trị

 

TS – BS LÊ ANH THƯ

 

Bệnh viện Chợ Rẫy TP. Hồ Chí Minh

 

(tiếp theo và hết)

 

5. Bệnh thống phong
(Bệnh Gout – Goutty Arthritis)

 


Thuộc nhóm các bệnh khớp vi tinh thể do rối loạn chuyển hóa Purine.

 

            Tỷ
lệ mắc bệnh là: 0,3% dân số người lớn, nghĩa là cứ 330 người lớn thì có 1
người mắc bệnh Gout.

 


Thường gặp ở nam( chiếm tỉ lệ trên 90%)

 


Tuổi bắt đầu mắc bệnh, trung niên, từ 35 đến trên 40.

 


Khởi bệnh: Cấp tính, đột ngột, diễn biến từng đợt, giữa các đợt khớp
hoàn toàn trở lại bình thường.

 

            Vị
trí bắt đầu thường là các khớp chi dưới, đặc biệt là ngón 1 bàn chân(70%).

 


Tính chất: Sưng nóng đỏ đau dữ dội, đột ngột.

 

            Ở
một hoặc rất ít khớp, không đối xứng

 

            Có
thể tự khỏi sau 3 – 7 ngày ( ở giai đoạn đầu)

 


Giai đoạn muộn thể hiện ở nhiều khớp, có thể đối xứng, xuất hiện các u cục
(Tophy) ở nhiều nơi đặc biệt quanh các khớp, ở vành tai.

 

            Dấu
hiệu toàn thân: Khi bị viêm khớp cấp, có thể sốt cao, đột ngột kèm rét run.

 

            Thể
trạng thường khỏe mạnh, mập mạp, sung túc.

 

            Có
thể kèm cao huyết áp, tiểu đường, rối loạn lipid máu.

 


Điều trị rất có hiệu quả khi kết hợp tốt giữa điều trị triệu chứng (thuốc
kháng viêm giảm đau), điều trị phòng ngừa đều đặn, liên tục, lâu dài (thuốc
làm giảm acid uric máu), điều trị các bệnh kèm theo, tuân thủ chế độ ăn uống
và sinh hoạt hợp lý.

 

6. Bệnh sốt thấp cấp /
thấp khớp cấp / thấp tim (Rheumatic Fever)

 


Thuộc nhóm bệnh khớp do nhiễm khuẩn gián tiếp (qua cơ chế miễn dịch).

 

            Tỷ
lệ mắc bệnh là: 0,5 – 0,6% dân số trẻ em (dưới 15 tuổi), nghĩa là cứ
khoảng 200 trẻ thì có 1 trẻ bị bệnh, bệnh rất ít gặp ở người lớn.

 

            Gặp
đều ở cả hai giới (nữ = nam)

 


Bệnh thường mắc ở trẻ em lứa tuổi đến trường (thường từ 5 – 15 tuổi).

 


Khởi bệnh thường là cấp tính với sốt, đau – viêm họng, đau – viêm khớp.

 

            Vị
trí bắt đầu thường ở các khớp lớn (khớp gối, khớp khuỷu tay, khớp cổ chân).

 


Tính chất: Sưng nóng đỏ đau, khớp lớn, không hoặc ít đối xứng.

 

           
Di chuyển
từ khớp này sang khớp khác, khi chuyển sang khớp mới khớp cũ
hết đau, không để lại di chứng tại khớp.

 

            Có
thể có viêm màng ngoài tim, màng trong tim, viêm cơ tim.

 

            Dấu
hiệu toàn thân: Sốt, viêm họng, mệt mỏi, xanh xao, múa vờn, suy tim.

 


Điều trị: Bệnh phải được chẩn đoán xác định sớm để có điều trị chống liên
cầu tan huyết nhóm A ở họng, phòng thấp, ngừa tái phát, ngăn ngừa các tổn
thương vĩnh viễn ở tim, van tim của trẻ.

 


Điều trị phòng thấp phải liên tục, đều đặn, đủ thời gian, đủ liều lượng.

 

7. Bệnh lupus ban đỏ hệ
thống (Systemic Lupus Erithematosus – SLE)

 

            Là
bệnh nặng, thuộc nhóm các bệnh của tổ chức liên kết.

 

            Tỷ
lệ mắc bệnh là: 0,02 – 0,1 % dân số người lớn (nghĩa là cứ 1.000 – 5.000
người lớn mới có một người bị bệnh, chỉ chiếm 1/30 – 1/5 số bệnh nhân viêm
khớp dạng thấp.

 

            Đại
đa số là õ (90%). Bệnh bắt đầu mắc ở lứa tuổi trẻ (20 – 40),
55% dưới 30 tuổi.

 


Khởi bệnh: Có thể là cấp tính hoặc bán cấp, cũng có thể từ từ tăng dần, sốt
dai dẳng.

 

            Vị
trí bắt đầu thường không rõ ràng, ở nhiều khớp, ở toàn thân.

 


Tính chất: Cứng khớp buổi sáng nhẹ và ngắn.

 

            Đau
nhức, nhức mỏi là chính.

 

            Đối
xứng, ít gây biến dạng khớp.

 

            Dấu
hiệu toàn thân: Sốt kéo dài, xanh xao, ban cánh bướm ở mặt, mệt, khó thở,
phù, xạm da, rụng tóc, loét miệng, rối loạn kinh nguyệt, viêm mạch máu.

 


Điều trị: Đây là bệnh toàn thân khá nặng, các điều trị hiện nay đều nhằm kéo
dài thời gian lui bệnh, điều trị triệu chứng và điều trị biến chứng ở tim,
thận, phổi, thần kinh trung ương (nếu có) của bệnh.

 

Tiên lượng của bệnh rất dè
dặt, đặc biệt khi bệnh nhân còn trẻ, tổn thương nhiều cơ quan (tim, thận,
thần kinh trung ương.). Bệnh thường bột phát, nặng lên trong thời kỳ thai
nghén, sinh đẻ và cho con bú.

 

8. Các bệnh viêm khớp
do vi khuẩn gồm lao và vi khuẩn (tụ cầu, lậu cầu. )

 


Thuộc nhóm bệnh khớp do nhiễm khuẩn trực tiếp.

 

            Vi
khuẩn có thể vào khớp theo các đường chính: ngoài da, đường niệu, và đường
máu.

 


Trực khuẩn lao vào khớp hoặc cột sống (sụn khớp hoặc đĩa đệm) qua đường máu,
sau nhiễm lao đặc biệt là lao phổi.

 

            Có
thể gặp ở cả hai giới, mọi tuổi, đặc biệt trẻ em, người già
những người suy giảm sức đề kháng, suy giảm miễn dịch.

 


Khởi bệnh thường là cấp tính (nếu do vi khuẩn) hoặc bán cấp (nếu do lao).

 

            Vị
trí bắt đầu thường ở một khớp, khớp lớn (khớp gối, khớp háng, cột
sống).

 


Tính chất: Không cứng khớp buổi sáng.

 


Sưng nóng đỏ đau một khớp, cố định. Không đối xứng.

 

            Dấu
hiệu toàn thân: Sốt cao, dấu hiệu nhiễm trùng toàn thân và tại chỗ.

 

            Có
đường vào của vi khuẩn (ngoài da, đường niệu và đường máu.)

 

            Sốt
về chiều, có dấu hiệu nhiễm lao, có nguồn lây bệnh.

 


Điều trị: Thuốc kháng sinh đặc hiệu theo mầm bệnh (nếu viêm khớp do vi
khuẩn).

 


Thuốc kháng lao theo các phác đồ điều trị lao hiện hành (nếu lao khớp).

 


Điều trị tại chỗ, bất động trong giai đoạn viêm cấp.

 

            Tập
vận động, phục hồi chức năng sớm để tránh cứng khớp, teo cơ.

 


Tiên lượng tốt, có thể chữa khỏi nếu điều trị đúng, đủ và sớm.

 

KẾT LUẬN

 

            Với
hoàn cảnh và trang bị kỹ thuật hiện đại, các bệnh khớp thường gặp nêu trên
có thể được xác định sớm bởi các thầy thuốc chuyên khoa ở các cơ sở y tế.
Rất mong các thầy thuốc và người bệnh quan tâm hơn nữa tới việc xác định
chuẩn đoán sớm các bệnh thấp khớp để việc điều trị đạt kết quả cao nhất, hạn
chế các tác dụng bất lợi không đáng có của việc điều trị triệu chứng đơn
thuần kéo dài, bảo vệ sức khỏe và chất lượng cuộc sống cho một số rất lớn
bệnh nhân là góp phần làm giảm bớt gánh nặng kinh tế cho mỗi gia đình và cho
toàn xã hội.

 

           

 

SHARE