Bệnh thần kinh có di truyền không

 - 

Các bệnh thần kinh di ảnh hưởng đến cả hệ thống thần kinh trung ương và ngoại vi và trong một số trường hợp, các cơ quan khác; ở những bệnh nhân này.

Bạn đang xem: Bệnh thần kinh có di truyền không

Các bệnh thần kinh di truyền nguyên phát chủ yếu ảnh hưởng đến các dây thần kinh ngoại vi và tạo ra các triệu chứng của rối loạn chức năng thần kinh ngoại vi.

Các bệnh thần kinh ngoại biên di truyền đã được phân loại dựa trên các đặc điểm lâm sàng, phương thức di truyền, đặc điểm điện sinh lý, khiếm khuyết chuyển hóa, và sau đó dựa trên các locus di truyền cụ thể.

Trong những năm gần đây, sự phát triển của y học nói chung đã xá định ngày càng nhiều những bệnh lý di truyền nói chung và bệnh lý thần kinh nói riêng.Với tỷ lệ lưu hành chung là 1: 2500 và có thể tăng khi y sinh học di truyền ngày càng phát triển.

*

Các bệnh thần kinh di ảnh hưởng đến cả hệ thống thần kinh trung ương và ngoại vi

Một số bệnh thần kinh di truyền thường gặp

Bệnh xơ cột bên teo cơ (Charcot Marie Tooth - CMT)

- Phần lớn các trường hợp CMT có liên quan đến các biến thể gây bệnh ở một trong bốn gen: PMP22 , MPZ , GJB1 và MFN2.

- Tỷ lệ phổ biến ước tính chung của CMT là 40 trên 100.000/dân, thay đổi từ 10 đến 82 trên 100.000 dân tùy theo các báo cáo khoa học khác nhau.

- CMT đã được phân loại từ loại 1 đến 7 và bao gồm ít nhất 30 rối loạn được phân biệt theo các triệu chứng lâm sàng, sinh lý thần kinh và di truyền.

- Bệnh nhân thường khó được chẩn đoán giai đoạn sớm.

Bệnh thần kinh tự chủ và cảm giác di truyền (Hereditary sensory and autonomic neuropathies - HSAN)

Bệnh được chia thành các tuýp nhỏ khác với đặc trưng là giảm hoặc mất cảm giác đau, cảm giác nóng - lạnh

- Bệnh thần kinh tự chủ và cảm giác di truyền tuýp 1

Thường xuất hiện trước tuổi 20 và nặng dần theo thời gian, đây cũng là tuýp phổ biến nhất trong HSAN. Bệnh thần kinh tự chủ và cảm giác di truyền tuýp 1 liên quan các đột biến trong gen SPTLC1

- Bệnh thần kinh tự chủ và cảm giác di truyền tuýp 2

Các gen liên quan đến bệnh thần kinh tự chủ và cảm giác di truyền tuýp 2: Do đột biến ở gen ở 1 trong 2 gen WNK1, FAM134B với triệu chứng giống nhau.

- Bệnh thần kinh tự chủ và cảm giác di truyền tuýp 3

Các gen liên quan đến bệnh thần kinh tự chủ và cảm giác di truyền tuýp 3: Các đột biến trong gen IKBKAP, một đột biến lặn trên NST thường gặp chủ yếu ở những người Do Thái gốc Đông Âu.

- Bệnh thần kinh tự chủ và cảm giác di truyền tuýp 4

Các gen liên quan đến bệnh thần kinh tự chủ và cảm giác di truyền tuýp 4: Các đột biến trong gen NTRK1.

- Bệnh thần kinh tự chủ và cảm giác di truyền tuýp 5

Các gen liên quan đến bệnh thần kinh tự chủ và cảm giác di truyền tuýp 5: Các đột biến trong gen NGF.

Bệnh thần kinh trục khổng lồ (Giant axonal neuropathy - GAN)

- GAN là một rối loạn thoái hóa thần kinh nghiêm trọng của hệ thần kinh trung ương và ngoại vi, biểu hiện lâm sàng rõ ràng trong thời thơ ấu. Nó được truyền dưới dạng tính trạng lặn trên NST thường. Vị trí đột biện gen GAN nàm trền 16q24.1.

Bệnh teo cơ tủy sống (spinal muscular atrophy, SMA):

Bệnh di truyền theo kiểu lặn theo nhiễm sắc thể thường. Đột biến gen SMN1, hoặc SMN2 (ít chức năng hơn) nằm trên 5q13.2.

Bệnh đám rối thần kinh cánh tay di truyền (Hereditary brachial plexopathy)

Bệnh này còn được gọi là chứng loạn dưỡng cơ thần kinh di truyền (HNA). HNA có liên quan đến đột biến gen SEPT9. Đặc điểm phát triển các triệu chứng NA được di truyền theo kiểu trội trên NST thường. Bệnh thường khởi phát lứa tuổi 20 - 30.


Bệnh xơ cột bên teo cơ (Charcot Marie Tooth - CMT)

Khi bệnh xuất hiện đầy đủ các triệu chứng, là giai đoạn muộn, bao gồm:

- Yếu và teo cơ: ở bàn tay, bàn chân thường xuất hiện đầu tiên. Lúc đầu biểu hiện yếu sức cơ và teo cơ ở một tay hoặc 1 chân, sau đó lan sang chi khác, đôi khi bệnh khởi phát cùng một lúc ở cả hai tay hoặc 2 chân nhưng mức độ không đều nhau. Giai đoạn nặng thấy thì yếu và teo cơ tứ chi rõ, cơ vùng cổ vùng mặt cũng teo rõ. Cơ hô hấp ít bị ảnh hưởng hơn, giai đoạn cuối mới có biểu hiện khó thở.

*

Yếu và teo cơ: ở bàn tay, bàn chân thường xuất hiện đầu tiên

- Rung giật bó sợi cơ (Fibrillations and fasciculation): giai đoạn đầu bệnh nhân tự cảm thấy rung giật các sợi cơ, bó cơ mà bệnh nhân không kiểm soát được. Sau đó giật bó sợi có này có thể nhìn thấy rõ ràng gây khó chịu cho bệnh nhân. Triệu chứng này thường gặp là các cơ: cánh tay, bả vai, đùi, đặc biệt thấy ở lưỡi

Những kích thích: gõ nhẹ vào cơ, khi duỗi cơ, kích thích nhiệt...có thể làm rung giật cơ rõ ràng hơn.

- Hội chứng tháp: tăng phản xạ gân xương rõ và có phản xạ bệnh lý bó tháp như: Dấu hiệu Babinski ở chi dưới, Hoffmann ở chi trên. Có thể thấy các phản xạ tự động ở miệng như phản xạ gan tay - cằm, phản xạ nút. Các triệu chứng này chứng minh trong CMT có tổn thương ở cả thần kinh trung ương.

- Hội chứng hành não hoặc hội chứng liệt giả hành não: đa số trường hợp hội chứng này xuất hiện ở giai đoạn muộn của bệnh.

+ Biểu hiện lâm sàng bằng tổn thương dây IX, X: nói khó, nuốt nghẹn, sặc, màn hầu sa thấp, teo cơ và giảm vận động lưỡi (không thè dài lưỡi ra ngoài được),hàm dưới trễ xuống, miệng không ngậm kín được, nước dãi luôn chảy ra.

+ Khi tổn thương nhân vận động dây V: teo các cơ nhai và giảm sức nhai.

+ Ở giai đoạn cuối của bệnh có biểu hiện khó thở (thậm chí ngừng thở), nhịp tim chậm (có thể ngất, ngừng tim) do tổn thương nhân dây thực vật của dây X.

Xem thêm: Cách Xác Định Network Id Host Id Là Gì, Hiểu Sơ Sơ Về Địa Chỉ Ip

- Những triệu chứng ít gặp khác:

+ Các biểu hiện rối loạn tâm thần như: suy giảm nhận thức ...

+ Bệnh không bao giờ có giảm cảm, mất cảm giác, nhưng có thể có dị cảm: tê bì, bòng rát, kiến bò...

- Điện cơ và đo tốc độ dẫn truyền thần kinh

+ Điện cơ giảm tốc độ dẫn truyền vận động các dây thần kinh ngoại vi trong khi tốc độ dẫn truyền cảm giác bình thường. Giảm tần số xuất hiện sóng F, sóng F đơn điệu về hình thái.

+ Điện cơ đồ khi cơ nghỉ xuất hiện điện thế rung giật sợi cơ và bó sợ cơ, khi co cơ tối đa điện cơ có biểu hiện giảm số lượng đơn vị vận động, tăng biên độ đơn vị vận động gợi ý tổn thương nguồn gốc thần kinh.

Bệnh thần kinh tự chủ và cảm giác di truyền (Hereditary sensory and autonomic neuropathies - HSAN)

*

Bệnh thần kinh tự chủ và cảm giác di truyền

- Bệnh thần kinh tự chủ và cảm giác di truyền tuýp 1:

+ Khởi đầu bệnh nhân có cảm giác ngứa ran, giảm hoặc không khả năng cảm giác đau và cảm giác nóng lạnh thường ở chân và lòng bàn chân. Một số người bị ảnh hưởng không mất cảm giác, nhưng thay vào đó họ cảm thấy đau nhói ở chân và bàn chân của họ. Sau đó, các rối loạn về cảm giác có thể xuất hiện bàn tay, cánh tay, vai và bụng.

+ Kèm theo có thể có vết loét trên bàn chân hoặc bàn tay của họ hoặc nhiễm trùng mô mềm của đầu ngón tay chậm lành. Do giảm hoặc không có cảm giác đau nên bệnh nhân thường chủ quan, các vết loét có thể bị nhiễm trùng là lan rộng

+ Hiếm khi bị mất thính lực do tổn thường thần kinh cảm giác

- Bệnh thần kinh tự chủ và cảm giác di truyền tuýp 2:

+ Việc mất các tế bào thần kinh dẫn đến không có khả năng cảm nhận cảm giác đau, nhiệt độ và xúc giác và rối loạn hệ thần kinh thực vật (rối loạn nhịp tim, nhịp thở, tiêu hóa, tiết niệu…)

- Bệnh thần kinh tự chủ và cảm giác di truyền tuýp 3:

+ Triệu chứng xuất hiện từ thời kỳ sơ sinh với biểu hiện: giảm trương lực cơ, chậm phát triển tâm thần vận động, khó giữ thăng bằng, mất nhận thức về đau, nóng và lạnh.

+ Suy giảm thị lực.

- Bệnh thần kinh tự chủ và cảm giác di truyền tuýp 4:

+ Vô cảm bẩm sinh với chứng đau, chứng sợ nước (không có khả năng tiết mồ hôi) và thiểu năng trí tuệ. Không có khả năng cảm nhận tất cả các cơn đau (kể cả đau nội tạng), dẫn đến tổn thương lặp đi lặp lại bao gồm: miệng tự cắt (cắn vào lưỡi, môi và niêm mạc miệng); cắn đầu ngón tay; bầm tím, sẹo và nhiễm trùng da; gãy nhiều xương (nhiều trong số đó không thể chữa lành đúng cách); và trật khớp tái phát nhiều lần dẫn đến biến dạng khớp.

- Bệnh thần kinh tự chủ và cảm giác di truyền tuýp 5:

+ Bệnh nhân mất khả năng cảm thấy đau, nóng và lạnh xuất khi mới sinh hoặc trong thời kỳ sơ sinh. Kèm theo giảm hoặc mất cảm giác sâu: giác đau do chấn thương xương, dây chằng hoặc cơ, nên họ dễ mắc chấn thương mà không biết gây nguy hiểm tính mạng.

Bệnh thần kinh trục khổng lồ (Giant axonal neuropathy - GAN)

- Tóc có xu hướng đỏ và cuộn chặt, trán cao, nước da trắng và lông mi dài.

- Tổn thương thần kinh ngoại vi cả vận động và cảm giác: liệt, teo cơ....

- Các biểu hiện liên quan đến hệ thần kinh trung ương bao gồm rối loạn chức năng tiểu não: rối loạn thăng bằng...,

- Một số trường hợp có suy giảm nhận thức, rối loạn thị giác..

- Bệnh tiến triển, thường tử vong vào lứa tuổi 30.

- Hình ảnh cộng hưởng từ não (MRI sọ não) cho thấy tổn thương chất trắng dưới vỏ, quanh não thất và tiểu não.

Bệnh teo cơ tủy sống (spinal muscular atrophy, SMA):

- Đặc trưng lâm sàng của SMA là yếu cơ có đặc điểm là cân xứng hai bên cơ thể,chủ yếu cơ thân mình và gốc chi, sau đó mới yếu cơ ngọn chi, không có rối loạn cảm giác

- Bệnh nhân thường chết vị suy hô hấp, mức độ nặng tăng dần cùng với sự mất chức năng của gen SMN1

- Bệnh SMA được chia 3 tuýp:

+ Tuýp I: nặng nhất, khởi phát triệu chứng ngay khi sinh hoặc giai đoạn sơ sinh. Trẻ không thể tự ngồi được, thường chết trước 2 tuổi.

+ Tuýp II: trẻ có thể tự ngồi nhưng không thể tự đứng, đi được. Bệnh khởi phát trong năm đầu và tiến triển nặng dần, thường chết trước tuổi 25.

+ Tuýp III: bệnh khỏi phát thường từ sau 3 tuổi. Trẻ có thể tự đứng và đi được, tử vong khi đã lớn tuổi.

Bệnh đám rối thần kinh cánh tay di truyền (Hereditary brachial plexopathy)

- Dấu hiệu nhận biết là cơn đau khởi phát đột ngột ở một hoặc cả hai vai và /hoặc cánh tay.

*

Bệnh đám rối thần kinh cánh tay di truyền

- Cơn đau được mô tả là sắc nét, nhức nhối, bỏng rát hoặc như dao đâm. Thang điểm đau có thể trên 7/10. Đau cũng có thể ảnh hưởng đến cổ và cánh tay, và bàn tay cùng bên với vai bị ảnh hưởng.

- Cơn đau khi khởi phát thường liên tục, dữ dội và nặng hơn vào buổi tối hoặc ban đêm. Sau đó cơn đau liên tục có thể giảm đi và có thể không còn đau khi vai và /hoặc cánh tay được nghỉ ngơi và đau tăng khi vận động.

Xem thêm: Top 10 Cách Trang Trí Nhà Cửa Ngày Tết Canh Tý 2020, Đơn Giản, Nhanh Mà Đẹp

- Bước vào giai đoạn liệt và teo cơ ở các mức độ khác nhau, có thể có dị cảm trên da (ngứa, tê bì, châm chích, bỏng rát..), thay đổi màu sắc da vai và cánh tay,....