BỆNH LOÃNG XƯƠNG

0
96
BỆNH LOÃNG XƯƠNG
Đánh giá!

BỆNH LOÃNG XƯƠNG

 

PTS. BS LÊ ANH THƯ

 

Bệnh viện Chợ Rẫy

 

Bệnh loãng xương được
ví như những tên ăn cắp vặt, mỗi ngày một chút, chúng lấy dần các khóang
chất quý báu trong ngân hàng xương của mỗi chúng ta. Lúc đầu, thường không
có biểu hiện gì, nhưng khi có các dấu hiệu rõ ràng, khối lượng xương thường
đã mất tới trên 1/3 (35%). Hậu quả gãy xương do loãng xương thường khá nặng
nề với sức khỏe người có tuổi vì xương đã bị loãng rất lâu liền, người bệnh
phải nằm lâu ngày nên rất dễ bị bội nhiễm (Viêm phổi, viêm đường tiết niệu,
loét mục…). Điều trị loãng xương thường khá tốn kém, đặc biệt khi đã có
các biến chứng nặng nề như gãy xương, gãy lún cột sống… Hiệu quả nhất,
kinh tế nhất là phòng bệnh, phòng bệnh từ khi còn nhỏ, từ khi còn trẻ, từ
các thế hệ trước… để khối lượng khóang chất đỉnh của bộ xương đạt con số
cao nhất lúc tuổi trưởng thành, đồng thời duy trì một nếp sống và sinh hoạt
lành mạnh, giảm tối đa các yếu tố nguy cơ của bệnh.

 

HẬU QUẢ CỦA BỆNH LOÃNG
XƯƠNG?

 

Gãy xương khi bị những
chấn thương nhẹ là hậu quả cuối cùng cuả bệnh loãng xương. Gãy xương do
loãng xương thường gặp ở các vị trí chịu lực của cơ thể như cột sống thắt
lưng và cổ xương đùi. Với người có tuổi, thường có nhiều bệnh lý cuả tuổi
tác đi kèm như tim mạch, huyết áp, tiểu đường… và đặc biệt với tình trạng
loãng xương nặng saün có (thiếu chất khoáng và protein cuả xương) thì việc
liền xương thường rất khó khăn, đa số người bệnh phải nằm tại chỗ nhiều
ngày, thậm chí phải nằm điều trị dài ngày trong bệnh viện. Việc nằm tại chỗ
dài ngày khi gãy xương không những làm tình trạng loãng xương càng nặng lên
mà còn kéo theo nhiều nguy cơ rất bất lợi cho sức khỏe người có tuổi như bội
nhiễm đường hô hấp, đường tiết niệu, loét mục ở các điểm tỳ đè… Đây cũng
là một nguyên nhân chính gây tàn phế và giảm tuổi thọ cho người có tuổi
(Theo thống kê ở các nước phát triển có đến 20% người có tuổi bị gãy cổ
xương đùi sẽ tử vong trong vòng 6 tháng đầu vì các biến chứng do nằm lâu nêu
trên)

 

KHI BỊ BỆNH LOÃNG
XƯƠNG RỒI CÓ CHỮA ĐƯỢC KHÔNG?

 

Bệnh loãng xương có thể
được cải thiện nhờ một chế độ ăn uống sinh hoạt và thuốc men hợp lý. Các
nghiên cứu theo dõi dài hạn cho thấy việc điều trị đã làm tăng được khối
lượng khoáng chất của xương, giảm đau đớn, phòng ngừa được gãy xương, giảm
các nguy cơ gãy xương…cải thiện chất lượng cuộc sống cho người có tuổi.

 

Chế độ ăn uống, sinh
hoạt

 

Cần duy trì một chế độ ăn
uống đầy đủ, đa dạng, hợp lý phù hợp với nhu cầu của cơ thể trong từng giai
đoạn, từng lứa tuổi, từng thói quen sinh hoạt.

 

Theo các nghiên cứu gần
đây của Trung tâm dinh dưỡng Thành phố Hồ Chí Minh, chế độ ăn cuả dân ta nói
chung rất thiếu calci. Sữa và các sản phẩm từ sữa (bơ, phomat..) giầu calci
chỉ chiếm một vị trí rất khiêm nhường trong khẩu phần ăn cuả đa số dân ta và
con số ít oiû này cũng chỉ tập trung ở một số thành phố lớn như TP. Hồ Chí
Minh và Hà nội .

 

Ở người có tuổi cần đặc
biệt quan tâm đến các thành phần khóang chất (đặc biệt là calci) và protid
trong khẩu phần ăn vì ở người có tuổi khả năng ăn uống và hấp thu các chất
dinh dưỡng và khóang chất đều bị hạn chế. Chính vì vậy sữa là một loại thức
ăn lý tưởng để cung cấp cả calci và protid cho người có tuổi. Lượng sữa cần
thiết mỗi ngày từ 500 đến 1.000 ml (có thể là sữa tươi, sữa chua hoặc sữa
pha từ sữa bột).

 

Cần duy trì một chế độ
sinh hoạt đa dạng, năng động: vận động thể lực đều đặn, vừa sức, tăng cường
các hoạt động thể lực ở ngoài trời. Việc vận động thường xuyên vừa có ích
cho toàn cơ thể (hệ tim mạch, hệ hô hấp, hệ thống tiêu hóa…) vừa tác dụng
tốt trực tiếp cho hệ thống xương cơ khớp, chống thóai hóa và chống loãng
xương (do tăng cường hoạt động của tế bào sinh xương, tăng cường hấp thu
calci và protid).

 

Đối với người lớn tuổi
cần hết sức tránh bị té ngã vì khi xương đã bị loãng, gãy xương sẽ rất dễ
xảy ra, khi gãy lại rất khó liền. Việc bất động để điều trị gãy xương không
những làm cho loãng xương nặng thêm mà còn là nguy cơ của nhiều bệnh lý do
nằm lâu khác

 

Chế độ thuốc men

 

Thuốc giảm đau chỉ dùng
khi cần thiết, tùy mức độ có thể dùng các thuốc giảm đau đơn thuần
(Paracetamol, Idarac…) hay dùng Calcitonine thuốc vừa có tác dụng ức chế
hoạt động của các tế bào hủy xương vừa có tác dụng giảm đau do hiện tượng
loãng xương. Tránh dùng các thuốc kháng viêm giảm đau đặc biệt nhóm thuốc
kháng viêm chứa Corticosteroides.

 

Cung cấp calci theo nhu
cầu của cơ thể ở từng lứa tuổi, từng trạng thái cơ thể… để bổ sung cho
những thiếu hụt mà khẩu phần ăn hàng ngày chưa đáp ứng đủ (Ở người có tuổi,
nhu cầu về calci tăng mà khả năng hấp thu calci ở ruột lại bị giảm sút, ở
phụ nữ có thai, cho con bú, sau mãn kinh… nhu cầu calci đều tăng…)

 

Cung cấp vitamin D hoặc
chất chuyển hóa cuả vitamin D (Calcitriol – Rocaltrol) để tăng cường khả
năng hấp thu và sử dụng calci của cơ thể.

 

Dùng các thuốc để ức
chế hoạt động của các tế bào hủy xương:
Liệu pháp hormon thay thế (hormon sinh dục nữ cho phụ nữ
sau mãn kinh), Calcitonine… theo chỉ định và theo dõi của thầy thuốc.

 

Dùng các thuốc để kích
thích hoạt động của các tế bào sinh xương:
Các chất làm tăng đồng hóa (Durabolin,
Deca-Durabolin), hormon sinh dục nam (cho nam giới nếu có thiếu hụt cần bổ
xung), muối Fluoride… theo chỉ định và theo dõi của thầy thuốc.

 

Để có kết quả, việc điều
trị loãng xương cần toàn diện, liên tục và lâu dài. Thời gian điều trị bệnh
loãng xương phải được tính bằng năm chứ không tính được bằng tháng (Để đánh
giá kết quả điều trị, thường phải sau 2 năm) nên Bảng giá thường quá cao so
với mức sống hiện nay của đa số nhân dân lao động. Chính vì vậy việc phòng
ngừa bệnh có ý nghĩa rất lớn, cả về mặt hiệu quả và kinh tế.

 

CÓ CÁCH GÌ ĐỂ PHÒNG
NGỪA BỆNH LOÃNG XƯƠNG?

 

Việc đầu tiên và quan
trọng nhất là bảo đảm khối lượng khóang chất đỉnh cuả bộ xương cao nhất lúc
trưởng thành bằng cách:

 

Bảo đảm một chế độ dinh
dưỡng đầy đủ cho các bà mẹ khi mang thai (để em bé có bộ xương “vốn liếng”
tốt nhất), khi cho con bú (để đủ calci cho sự phát triển của bộ xương ngay
từ đầu).

 

Bảo đảm chế độ dinh dưỡng
và vận động cho trẻ em để đạt mức phát triển cơ thể tốt nhất.

 

Duy trì một chế độ dinh
dưỡng hợp lý, một nếp sống lành mạnh, năng động, kết hợp hài hòa giữa công
việc hàng ngày, hoạt động thể lực, giải trí… ngay từ khi còn nhỏ, ngay từ
khi còn trẻ, tránh các thói quen gây ảnh hưởng xấu tới chuyển hóa calci như:
uống nhiều rượu, bia, cafe, hút thuốc, ăn kiêng quá mức, thụ động, ít vận
động thể lực… Từ tuổi 40, hoạt động của các tế bào hủy xương bắt đầu trội
hơn các tế bào sinh xương vì vậy chúng ta nên tính toán cụ thể và bổ xung đủ
lượng calci cần thiết bằng chế độ ăn uống hàng ngày và tăng cườnghơn nữa các
hoạt động thể lực ngoài trời.

 

Phát hiện vá điều trị các
bệnh kèm theo. Điều chỉnh và kiễm soát chặt chẽ các thuốc điều trị.

 

Nếu cần sử dụng lâu dài
các thuốc chống co giật (Phenyltoin, Barbiturate…), bổ xung thêm vitamin D
vì các thuốc này ảnh hưởng đến chuyển hóa của vitamin D.

 

Nếu cần sử dụng lâu dài
Corticosteroid, bổ xung thêm calci, vitamin D và chất kích thích tạo xương
vì Corticosteroid vừa ức chế trực tiếp sự tạo xương, vừa giảm hấp thu
vitamin D, vừa tăng thải calci qua nước tiểu.

 

Ở phụ nữ mãn kinh một mặt
tăng cường bổ xung calci, vitamin D, khuyến khích hoạt động thể lực và tập
luyện ngoài trời, khuyến khích tham gia công tác và giao tiếp xã hội, mặt
khác động viên và hường dẫn chị em áp dụng Liệu pháp hormon thay thế nếu có
chỉ định và có điều kiện (Điều kiện theo dõi, điều kiện kinh tế). Tốc độ mất
xương sẽ cao nhất sau mãn kinh từ 5 đến 7 năm, vì vậy Liệu pháp hormon thay
thế rất cần được áp dụng sớm để ngăn ngừa loãng xương sau mãn kinh. Đây là
nguyên nhân quan trọng nhất, mang lại hậu quả nặng nề nhất cho nhiều phụ nữ
lớn tuổi.

 

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BIẾT
ĐIỀU TRỊ CÓ KẾT QUẢ?

 

Bệnh loãng xương cần được
điều trị toàn diện, liên tục và lâu dài. Có thể đánh giá kết quả điều trị
cần dự ?bị mất một đoạn? xương trước và sau một thời gian điều
trị (thường là 1 – 2 năm).

 

DEXA (Quét và đo độ hấp
thu Proton của xương) để theo dõi sự cải thiện của Tỷ lệ khóang chất (BMD)
và Khối lượng xương (BMC) sau một thời gian điều trị (thường là 1 – 2 năm).

 

KẾT LUẬN

 

loãng xương là một bệnh
phổ biến ở người lớn tuổi đặc biệt là phụ nữ sau mãn kinh. Khi đã bị bệnh,
để giảm các biện chứng nặng như gãy cổ xương đùi, gãy xương cổ tay, gãy xẹp
đốt sống… cần phải thực hiện nhiều biện pháp, nhiều loại thuốc liên tục và
kéo dài. Bảng giá điều trị loãng xương hàng năm rất lớn và ngày càng gia
tăng, chất lượng cuộc sống của người có tuổi bị ảnh hưởng… là điều các
quốc gia đều cần phải quan tâm.

 

“Phòng bệnh hơn Chữa
bệnh”. Bệnh loãng xương có thể được phoìng ngừa tốt bằng việc duy trì một
chế độ ăn uống, sinh hoạt, tập luyện, vận động đầy đủ và hợp lý ngay từ khi
còn nhỏ đến lúc trưởng thành và trong suốt cuộc đời. Đây phải là ý thức tự
giác của nhiều thế hệ cha mẹ khỏe mạnh, các con khỏe mạnh. Riêng ở phụ nữ
sau khi mãn kinh, loãng xương sẽ được phòng ngừa tốt nhất bằng liệu pháp
hormon thay thế (nếu có chỉ định và điều kiện) kết hợp với chế độ ăn uống,
sinh hoạt, tập luyện, vận động đầy đủ và hợp lý.

 

Nội dung được tìm nhiều trên Google
SHARE